Chương 1
Chương 1:
“Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
Nhậm vận thịnh suy vô bố uý
Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.”
* Quốc sư Vạn Hạnh
(“Thân như bóng chớp, có rồi không,
Cây cối xuân tươi, thu não nùng.
Mặc cuộc thịnh suy đừng sợ hãi,
Kìa kìa ngọn cỏ giọt sương đông.”)
Giang Bắc có một con suối, nước chảy róc rách qua từng kẽ đá, trong vắt như gương nhưng không hề có bóng cá. Người già trong vùng kể rằng, ngày xưa nơi đây từng có một nàng tiên trời giáng trần, rửa mặt bằng nước suối này để giữ lòng thanh tịnh, nên nước tuy sạch nhưng không cho sinh vật cư ngụ, giữ mãi sự trong trẻo như bản nguyện của nàng. Từ đó, người dân gọi tên suối đó là Thanh Lộ.
Thanh Lộ len lỏi qua những thung lũng u tịch, rồi biến mất sau dãy núi xa, nơi trời đất giao hòa. Trên những đỉnh núi ấy, cỏ non trải dài mượt như tấm lụa, cây cối lưa thưa, quanh năm lạnh giá. Ở đó, người dân chỉ trồng được những thứ rau củ chịu rét như ngô, khoai, sắn, chứ lúa thì không trồng được. Họ nói, đất ở đây từng là nơi các vị tiên lui tới, nên phàm tục khó bén rễ, chỉ những thứ thuộc về nơi đây mới có thể sinh sôi.
Con sông lớn nhất ở Giang Bắc là sông Quế Hà. Dòng sông mang màu xanh như dạ ngọc, quanh năm chảy hiền hòa nhưng sâu thẳm. Dân gian lưu truyền rằng, nơi đây vốn là dải lụa rơi xuống từ tay một tiên nữ khi nàng đáp xuống nhân gian tìm người thương, nên mới mang tên "Quế" mùi hương thanh cao và "Hà" dòng nước trời. Nước sông chảy qua các khe rãnh, ôm lấy từng ngọn núi như một vòng tay an ủi cho bao thế hệ sống rải rác nơi này.
Dân cư Giang Bắc không tụ lại thành làng bản như nơi khác, mà mỗi nhà lại dựng lều, cất mái trên một ngọn núi riêng, như thể ai cũng giữ lấy một mảnh trời đất cho riêng mình, phong tục ở đây cũng đơn sơ như đất trời chủ yếu là thờ cúng tổ tiên, giữ chút nếp nhà, không cầu kỳ nghi lễ. Họ chỉ gặp nhau khi xuống núi gánh nước, hay vào dịp hội xuân đầu năm khi mời hồn núi hồn sông về chứng lễ.
“Thổ mộc tương sinh cấn bạn câm
Vị hà mưu ngã uẩn linh khâm?
Đương thì ngũ khẩu thu tâm tuyệt,
Trực chí vị lai bất hận tâm.”
* Quốc sư Vạn Hạnh
("Kim cấn" liền đôi như "thổ mộc",
Cớ sao toan chước hại nhau ngầm?
Thoạt nghe, bụng tớ "rầu" khôn xiết,
Nhưng thực về sau chẳng bận tâm.)
Trên dòng Quế Hà xanh thẳm, có một mái nhà lẻ loi dựng nơi triền núi, đã yên vị mười năm trời. Cư ngụ trong ngôi nhà ấy là một gia đình ba người, người cha tên Lý Trung Mão, vốn là người Giang Bắc, quê ở một làng nhỏ nằm giữa núi non mây phủ. Thuở trước, ông đỗ cử nhân, từng được triều đình cử làm lý trưởng một xã vùng ngoại thành Thăng Liên. Nhưng rồi thế sự xoay vần, sau mấy phen phong ba nơi chốn quan trường, Lý Trung Mão bị bãi chức. Chẳng oán than cũng không trốn tránh, ông thu xếp gia quyến hồi hương, lui về quê cũ, dựng lều tranh, mở lớp tư thục truyền chữ thánh hiền bên dòng Quế Hà.
Người dân trong vùng, từ già tới trẻ, đều kính mến gọi ông là Lý phu tử không chỉ vì ông từng là người đọc sách làm quan, mà còn bởi cách ông sống trầm mặc, điềm đạm.
Vợ ông, Lý Hồng Lụa, là người khác quê, gặp chồng tại kinh thành thuở thiếu thời, trải bao cay ngọt. Nàng là người phụ nữ thủy chung, biết lo trước nghĩ sau, sống giản dị mà sâu sắc. Cũng chính nàng là người đầu tiên khuyên chồng từ bỏ chốn danh lợi mà về quê mở lớp, lấy chữ nghĩa và đạo lý làm nghiệp nhà.
Hai người có một cậu con trai duy nhất tên là Lý Đức Hưng, năm nay vừa tròn mười tuổi. Hắn lớn lên giữa núi rừng và sông nước, chưa biết vị mặn của đời, nhưng ánh mắt đã sớm có nét trầm ngâm của người từng chứng kiến những lặng lẽ sâu thẳm trong lòng cha mẹ mình.
Trước khi lui về vùng núi Giang Bắc, Lý Trung Mão từng là một kẻ sĩ có tiếng ở chốn kinh kỳ. Người trong giới học vấn gọi ông là “kẻ sĩ giữ đạo”, bởi ông học rộng lễ nghi, giỏi phép trị dân, lại thấu nhân tình thế thái. Đỗ cử nhân năm hai mươi tuổi, nhờ học Nho mà ông thông lý trời, tường mệnh người, dùng lễ nghi để ổn định dân tâm, dùng nghĩa lý để phân xử thị phi. Sau khi được bổ nhiệm làm lý trưởng một xã ven thành Thăng Liên, ông đã cải tổ hương chính, soạn lại sổ điền thổ, loại bỏ thuế phi lý, buộc các nhà phú hộ phải thôi bóc lột ruộng đất dân nghèo. Chưa đầy hai năm, xã đó đã từ nơi xung đột, kiện tụng, trở nên yên ổn, người dân gọi là “thôn lễ nghĩa”, trẻ nhỏ biết chào hỏi, người già được cúng dưỡng.
Đề xuất Tiên Hiệp: Thần Thoại Chi Hậu