Chương 2

Chương 2:

Chính nhờ học Nho mà ông hiểu được hai chữ “chính đạo”, tin rằng kẻ làm quan là người thay trời hành đạo, phải đặt dân làm gốc. Nhưng cũng chính vì vậy, ông đã đụng đến nhiều lợi ích ngầm. Phép tắc ông dựng lên làm đám nha lại không còn vơ vét được như trước, đám hương lý cũ mất đi đặc quyền, thậm chí quan huyện khi đến tuần xét còn bị ông kín đáo dâng sớ can ngăn tệ nạn tham ô.

Chính trường vốn không chỉ là nơi dùng đạo lý, mà còn là chốn của quyền mưu. Một khi kẻ sĩ đứng thẳng lưng giữa chốn cong queo, hắn chẳng khác nào ngọn đèn trong gió hoặc bị dập, hoặc bị che. Bọn tham quan liên kết với các phú hộ bị ông chặn đường, âm thầm dâng thư bịa tội, chúng nói ông chia bè kết đảng, khích lệ dân làm loạn, làm tổn hại uy tín phủ quan. Thư được dâng lên phủ Thăng Liên, rồi đến kinh thành.

Chức lý trưởng bị tước trong một kỳ xét bổ, mà không cần điều tra, không cần biện hộ. Một ngày nọ, quan quân đến thu ấn, đọc án văn giữa sân đình. Dân làng ngơ ngác, không ai dám can, chỉ có mấy người lén cúi đầu tiễn ông lúc trời chưa sáng.

Lý Trung Mão không cãi, cũng không cầu. Ông biết, Nho dạy “trị quốc” thì cũng dạy “an thân”. Một khi lòng chính mà thời loạn, thì nên rút về giữ mình, hơn là chết giữa chợ vì chữ nghĩa. Ông dắt vợ con rời khỏi Thăng Liên, trở về Giang Bắc, nơi non cao nước lạnh, nơi đạo còn sạch như dòng suối đá.

Mười năm sau, người dân vùng Quế Hà không nhớ đến một lý trưởng từng bị tước chức, mà chỉ biết có Lý phu tử, mỗi sớm đốt hương đọc sách, mỗi chiều dạy chữ, răn người về “nhân nghĩa lễ trí tín”. Đạo lý ông giữ không còn trong công đường, mà sống giữa đồng sâu núi thẳm, sống trong lũ trẻ học chữ lễ trước khi học chữ văn.

“Tật lê trầm Bắc thuỷ,

Lý tử thụ Nam thiên.

Tứ phương qua can tĩnh,

Bát biểu hạ bình yên”

* Quốc sư Vạn Hạnh

(Gốc lê chìm bể Bắc,

Chồi lý mọc trời Nam.

Bốn phương tan giáo mác,

Tám cõi được bình an.)

Mùa xuân

Lớp tư thục nơi Lý phu tử dạy học chỉ có bảy người, đứa lớn nhất đã hai mươi, nhỏ nhất mới lên bảy. Học trò đến từ các triền núi quanh dòng Quế Hà, ngày đi học, sương còn đọng trên lá, trời vẫn chưa tỏ mặt người.

Năm đó, Hà Mạnh một học sinh của thầy Lý vừa tròn mười ba. Nghe người trong vùng kể rằng bên ngọn núi Thanh Lộ có một vị phu tử ẩn cư, từng làm quan, học rộng hiểu sâu, đêm thì đọc sách thánh hiền, ngày lại trò chuyện cùng cây cỏ chim muông lời nói có thể khiến gió lặng, chữ viết như mang khí linh trong trời đất. Người bảo vị phu tử ấy không chỉ dạy chữ, mà còn dạy đạo làm người, dưỡng khí giữ tâm, nếu thuận duyên còn có thể cảm ứng mà thấu hiểu mệnh thời.

Hà Mạnh nghe xong, lòng như có tiếng chuông vang trong sương sớm. Cậu biết mình sinh ra ở nơi núi cao rừng rậm, cả đời nếu không học thì cũng chỉ biết trồng ngô, hái măng. Một hôm, cậu rụt rè thưa với cha, rằng muốn đến học chữ bên núi. Người cha tuy lam lũ nhưng yêu con vô ngần, nghe vậy thì mừng rỡ, bèn gùi một ít ngô, vài củ khoai vượt hai ngọn đồi, đến tận nhà Lý phu tử xin cho con học. Vị phu tử ngồi trầm mặc dưới gốc mai già, ánh mắt lặng như hồ thu, chỉ hỏi một câu: “Cháu có thích học không? ” Hà Mạnh cúi đầu, đáp “có ạ”. Phu tử mỉm cười, chỉ nói: “Vậy thì học.”

Từ mùa xuân năm ấy, Hà Mạnh trở thành một trong bảy học trò bên dòng Quế Hà. Hằng ngày chân trần băng đồi vượt suối, lưng đeo túi vải, nghe phu tử giảng đạo đạo của người, đạo của đất, đạo của tâm. Lâu dần, trong giấc ngủ cậu thường thấy mình cưỡi gió đi giữa rừng mai, lắng nghe lời dạy vang như tiếng chuông giữa cõi mù sương, không rõ là mộng hay duyên.

….

Lý phu tử gõ nhẹ thước tre lên bàn, giọng trầm mà đều đặn vang lên như tiếng chuông giữa sớm mai:

Này các sinh đồ, đọc theo ta nào: “Phù hiếu, đức chi bản dã, giáo chi sở do sinh dã.”

Tiếng đọc đồng thanh của học trò vang lên, lẫn trong âm thanh xào xạc của gió xuân luồn qua kẽ lá mái tranh:

Phù hiếu, đức chi bản dã, giáo chi sở do sinh dã…

Bất chợt, ngoài sân có tiếng Lý phu nhân vọng vào, khẽ ngắt đoạn nghiêm cẩn ấy:

Đề xuất Huyền Huyễn: Tạo Hóa Tiên Tộc
Quay lại truyện Quế Hà Văn Lục
BÌNH LUẬN