Chương 200: Tỏa Lân Nang
Yếu lĩnh của việc vuốt dây sắt, một là tìm "vân", hai là tìm "lộ". Trương Lai Phúc vừa đi bộ về nhà vừa vuốt dây sắt, nhưng anh chẳng tìm thấy vân, cũng không thấy lộ, bởi tâm trí anh lúc này hoàn toàn không tập trung.
Khâu Thuận Phát đang bị Cố Bách Tương vây khốn tại tiệm lụa Ỷ La Hương trong Ma Cảnh. Tuy tình hình cụ thể có chút phức tạp, nhưng xét cho cùng, Khâu Thuận Phát rơi vào cảnh đó cũng là vì muốn cứu Trương Lai Phúc.
Hiện giờ Trương Lai Phúc không biết khi nào Tôn Quang Hào mới tiễn được vị "nữ tổ sư" kia đi, cũng chẳng rõ bao giờ gã mới nghĩ ra cách chế phục Cố Bách Tương. Nhưng anh biết thực lực của ả đào kia đáng sợ thế nào, và Khâu Thuận Phát có thể mất mạng bất cứ lúc nào.
Dù thế nào đi nữa, anh cũng phải giúp Khâu Thuận Phát một tay. Nhưng Tôn Quang Hào nói cũng không sai, anh vốn không thông thuộc Ma Cảnh của thành Lăng La, lại càng không hiểu rõ Cố Bách Tương, nếu mạo hiểm xông vào chỉ e không giúp được gì mà còn thêm loạn.
Tại sao Khâu Thuận Phát lại trốn ở tiệm lụa? Tại sao Tôn Quang Hào lại nói nơi đó tương đối an toàn? Trương Lai Phúc chợt nhớ lại một chuyện, Khâu Thuận Phát từng nói Liễu Khởi Vân khá quen thuộc với Cố Bách Tương. Có lẽ từ chỗ cô ta có thể tìm ra cách gì đó.
Trương Lai Phúc tìm đến tiệm lụa Ỷ La Hương, không phải ở Ma Cảnh, mà là cửa tiệm thật sự giữa đời thường.
Liễu Khởi Vân đang ngồi bên quầy hàng, nhìn sổ sách mà thở ngắn than dài. Từ sau khi trở về từ Hắc Sa Khẩu, việc làm ăn của cô luôn không thuận lợi, sổ sách chỉ thấy chi ra chứ chẳng có thu vào, giờ đến cả tiền lương tháng cho thợ cũng sắp không phát nổi.
Chuyện này cũng chẳng trách ai được. Lúc trước khi cô bán tiệm, đám khách quen đành phải tìm mối khác, nay cô trở lại thì họ đã làm ăn quen mặt với chỗ mới mất rồi. Thân mang nợ ngoài chưa trả xong, thợ thuyền lại bỏ chạy sạch, cô nản lòng nói: “Lão đệ à, việc làm ăn của tôi không duy trì nổi nữa rồi, hay là tôi nhượng lại tiệm cho anh nhé?”
Vừa thấy Trương Lai Phúc, Liễu Khởi Vân đã bắt đầu trút bầu tâm sự. Trương Lai Phúc lắc đầu: “Tôi không làm được nghề buôn lụa, tôi không phải người trong nghề này.”
Liễu Khởi Vân vỗ ngực một cái: “Tôi là người trong nghề đây, tôi có thiếp xuất sư hẳn hoi. Hay là thế này, tôi viết một tờ văn tự bán thân, bán luôn cả mình cho anh, tôi làm nội chưởng quỹ cho anh luôn.”
Trương Lai Phúc ngẫm nghĩ một lát, cảm thấy không kinh tế cho lắm: “Tôi mua tiệm, để cô làm chưởng quỹ, chẳng phải tôi chịu thiệt sao?”
“Không thiệt đâu, ngoài làm chưởng quỹ, tôi còn có thể làm việc khác nữa mà!”
Trương Lai Phúc nhìn Liễu Khởi Vân từ trên xuống dưới một lượt: “Cô có thể làm gì?”
Liễu Khởi Vân chỉ vào mình, nũng nịu: “Dáng vẻ thế này, vóc người thế này, anh nói xem có thể làm gì? Đã làm nội chưởng quỹ cho anh rồi, chẳng phải anh muốn làm gì thì làm sao?”
Trương Lai Phúc lại cảm thấy vóc dáng này cũng bình thường: “Cánh tay cô gầy quá, để cô vung búa lớn rèn sắt chắc là tốn sức lắm.”
Liễu Khởi Vân đấm Trương Lai Phúc một cú, mắng: “Cái đồ tồi này, còn bày đặt kén chọn, tưởng tôi thật sự coi trọng anh chắc? Anh đến tìm tôi có việc gì?”
“Tôi đến tìm cô là muốn hỏi thăm về một người.”
“Người nào?”
“Có một đào hát tên là Cố Bách Tương, cô từng nghe nói qua chưa?”
Vừa nghe thấy cái tên Cố Bách Tương, sắc mặt Liễu Khởi Vân thoáng biến đổi. Nhưng dù sao cô cũng đã lăn lộn ngoài đời lâu ngày, tia biến hóa đó biến mất trong nháy mắt, gương mặt cô lại mang theo nụ cười như lúc đón khách: “Anh nói Cố Liên Hương à? Ở thành Lăng La này có ai mà không nghe danh cô ấy? Đó chính là đệ nhất danh linh phương Nam năm đó đấy.”
“Cô chắc hẳn biết không ít chuyện về bà ấy chứ?”
“Tôi với cô ấy không họ hàng thân thích, dựa vào đâu mà tôi phải biết? Anh muốn hỏi chuyện về cô ấy thì nên đi tìm mấy người hát tuồng ấy, bọn họ mới rành!”
“Tôi nghe người khác nói, cô và bà ấy khá thân thiết.”
Liễu Khởi Vân cúi đầu, gảy gảy những hạt bàn tính: “Anh nghe ai nói? Thế nào gọi là thân thiết? Gặp một lần tính là thân thiết sao? Hay nói chuyện vài câu là thân thiết? Hai chúng ta nói chuyện lâu như vậy, có phải là đã thân đến mức không thể thân hơn được nữa rồi không?”
Trương Lai Phúc thấy thái độ của cô không đúng, liền hỏi: “Là tôi nói sai câu nào sao?”
Liễu Khởi Vân ngẩng đầu lên, nụ cười trên mặt trở nên giả tạo hơn vài phần: “Anh là khách quý, tôi nào dám bảo anh sai? Chỉ là tôi không hiểu, tại sao đột nhiên anh lại hỏi tôi về chuyện của cô ấy?”
“Bởi vì tôi và bà ấy có chút xích mích.”
“Xích mích?” Nụ cười của Liễu Khởi Vân đột ngột biến mất, “Anh đã gặp cô ấy?”
“Gặp rồi, ngay đêm qua.”
“Cô ấy đang ở chỗ nào?”
Trương Lai Phúc đáp: “Cô và bà ấy rốt cuộc có phải người quen không? Nếu không phải, thì đừng hỏi nữa.”
Liễu Khởi Vân cười lạnh một tiếng: “Còn giở tâm cơ với tôi nữa, có phải anh muốn gài bẫy lấy lời tôi không?”
Trương Lai Phúc hỏi ngược lại: “Tôi đã bao giờ làm việc như vậy chưa?”
Đôi mắt hạnh lớn của Liễu Khởi Vân nhìn chằm chằm vào đôi mắt vô thần của Trương Lai Phúc một hồi lâu, rồi quay người nói: “Đi theo tôi lên tầng hai.”
Cô đưa anh lên phòng nhã gian ở tầng hai, khóa cửa lại, nhóm lò pha trà. Cô rót cho anh một chén rồi hỏi: “Anh và Cố Bách Tương tại sao lại xảy ra xích mích?”
Trương Lai Phúc mân mê sợi dây sắt trong tay, chuyện này đúng là khó mà nói rõ ràng: “Tôi cũng không biết nguyên nhân là gì. Bà ấy vừa thấy tôi là bắt đầu hát tuồng, lúc đầu đóng vai Thanh y, rồi lại sang vai Mặt hoa, sau đó còn hát một vai Tiểu hoa đán. Tôi cũng đâu có chê bà ấy hát không hay, thế mà bà ấy vẫn lao vào đánh tôi.”
Lời nói nghe có vẻ lộn xộn, nhưng Liễu Khởi Vân lại nghe hiểu, cô che miệng cười: “Có phải anh cảm thấy cô ấy là một kẻ điên không?”
“Cũng không hẳn là điên, chỉ là tính tình có chút đặc biệt. Nhưng tôi nghĩ oan gia nên giải không nên kết, nên muốn tìm bà ấy để nói đạo lý.”
Liễu Khởi Vân vén lọn tóc mai, rót thêm chén trà, khẽ thổi một hơi rồi đưa tới bên miệng Trương Lai Phúc: “Không cần nói đâu, cô ấy không nghe hiểu đạo lý đâu.”
Trương Lai Phúc đón lấy chén trà, uống cạn: “Tôi đã gặp không ít người tính tình đặc biệt, tôi thấy họ đều có thể nghe hiểu đạo lý mà.”
Liễu Khởi Vân nghịch mấy lá trà, khẽ lắc đầu: “Cố Bách Tương không giống người khác, cô ấy từ nhiều năm trước đã không còn nghe hiểu đạo lý rồi. Hai chúng tôi cách nhau gần hai mươi tuổi, lần đầu tôi gặp cô ấy, cô ấy đã ba mươi lăm tuổi, lúc đó ở phương Nam vẫn đang cực kỳ nổi tiếng.”
“Lúc đó tôi còn là một con nhóc hôi hám, làm chân chạy việc trong tiệm lụa. Có một lần đi giao sườn xám cho gánh hát thì quen biết Cố Liên Hương. Cố Liên Hương là người lắm chuyện, yêu cầu cũng nhiều. Vải làm áo phải là lụa Cát Ti mềm mại của phương Nam, cô ấy còn đặc biệt thích hoa văn mây chìm. Cổ áo và cửa tay áo đều phải dụng tâm, cô ấy cực kỳ kén chọn về phần viền.”
“Cô ấy thích cúc ngọc trai, phải mài thật bóng và đẹp. Eo phải thắt chặt, tà áo xẻ không được quá cao, thêu thùa là cầu kỳ nhất, và nhất định phải thêu hoa lan. Cô ấy nói hoa lan thanh khiết nhất, hợp với tính cách của cô ấy nhất.”
“Người khác thường không nhớ nổi bấy nhiêu yêu cầu, mỗi lần giao áo đến thường phải đem về làm lại. Tôi thì đầu óc khá lanh lợi, nhớ được hết sạch, áo giao đến nơi khiến Cố Liên Hương rất hài lòng. Cô ấy cho tôi tiền thưởng, còn khen tôi vóc dáng tốt, giọng hát cũng hay, muốn dạy tôi hát tuồng.”
“Người ta là danh ca lớn như vậy mà lại coi trọng một đứa chạy việc như tôi, trong lòng tôi đương nhiên là vui mừng. Vả lại lúc đó tôi cũng thích nghe tuồng, thế là đi theo cô ấy học vài đoạn, qua lại vài lần thì thành người quen.”
“Lúc đó đầu óc Cố tỷ tỷ vẫn còn minh mẫn, ngoài việc nói về tuồng, cô ấy còn thích kể vài chuyện vui khác.”
Trương Lai Phúc vừa vuốt dây sắt, vừa hỏi: “Đều là những chuyện vui gì?”
Liễu Khởi Vân nhướng mày, ánh mắt thoáng chút tinh nghịch và bí hiểm: “Đều là chuyện riêng của cánh đàn bà con gái chúng tôi, anh đừng hỏi. Tôi và cô ấy đặc biệt hợp tính, hễ gặp nhau là phải trò chuyện đến nửa ngày, có mấy lần trễ nải công việc bị chưởng quỹ mắng không nói, còn bị trừ không ít tiền công.”
“Sau này Cố tỷ tỷ biết chuyện, đã cho tôi năm trăm đại dương, bảo tôi tự mở một cái tiệm, đừng ở dưới tay người khác mà chịu nhục.”
“Số tiền lớn như vậy tôi đâu dám nhận? Nhưng cô ấy cứ nhất quyết bắt lấy, còn tìm người giúp tôi chọn cửa tiệm, thế là tôi mở Ỷ La Hương Điều Đoạn Trang. Chữ ‘Ỷ’ là tên tôi, chữ ‘Hương’ là tên cô ấy, cái tên này chính là do cô ấy đặt.”
Trương Lai Phúc hỏi: “Vậy còn chữ ‘La’?”
Liễu Khởi Vân cụp mắt xuống, lườm anh một cái: “Chữ ‘La’ nghĩa là lụa là gấm vóc, anh chưa đi học bao giờ à?”
Trương Lai Phúc nhìn quanh quất: “Nói cách khác, tiệm này là do Cố Liên Hương mua cho cô?”
Liễu Khởi Vân lắc đầu: “Cái tiệm cô ấy mua cho tôi khi xưa không lớn thế này, chỉ là một gian mặt tiền nhỏ thôi. Nhưng tôi làm việc tâm huyết, Cố Liên Hương cũng giới thiệu cho tôi rất nhiều mối làm ăn, có cô ấy nâng đỡ nên việc mua bán ngày càng hồng hỏa.”
“Tôi là người biết ghi nhớ ơn nghĩa, thỉnh thoảng lại mang theo ít lụa tốt đến thăm cô ấy, trong lòng luôn nghĩ tìm cơ hội báo đáp. Vốn tưởng chị em có thể cứ thế mà sống tiếp, không ngờ ngày tháng trôi qua, Cố Liên Hương đã thay đổi, thay đổi đến mức tôi không còn nhận ra cô ấy nữa.”
“Bà ấy đã thay đổi thế nào?” Trương Lai Phúc cảm thấy mình đã vuốt tới "vân" của sợi dây sắt, tay hơi tăng thêm lực.
Liễu Khởi Vân nhìn sợi dây sắt trên tay anh, khẽ nhíu mày: “Cố Liên Hương nói chuyện tuồng với tôi ngày càng nhiều, những chuyện thú vị của chị em trước đây giữa chúng tôi càng ngày càng ít đi.”
“Vào ngày sinh nhật ba mươi tám tuổi của cô ấy, tôi mang quà đến thăm. Hôm đó người đến thăm cô ấy đặc biệt đông, tôi cứ ngỡ cô ấy không rảnh tiếp mình, định bụng đặt quà xuống rồi đi, không ngờ cô ấy chẳng tiếp ai cả, chỉ gọi riêng một mình tôi vào phòng để nói chuyện tuồng.”
“Cô ấy nói từ chín giờ sáng đến chín giờ tối, giữa chừng ngoài ăn uống vệ sinh ra thì toàn nói về tuồng. Từ ‘Tô Tam Khởi Giải’ nói đến ‘Tứ Lang Thăm Mẹ’, nói đến mức đầu óc tôi quay cuồng mà cô ấy vẫn không dừng lại.”
“Tôi nghe đến chán, đến phát phiền, thật sự chịu không nổi nữa nên đã ngủ gật ngay trước mặt cô ấy. Cố tỷ tỷ nổi giận, đánh tôi một trận. Không phải kiểu nô đùa giữa chị em mà là đánh thật, cô ấy hóa thân thành Thúc Bảo, cầm một đôi Ngõa Diện Kim Giản đánh tôi suýt chết. Hôm đó nếu không có người của gánh hát ngăn lại, có lẽ cô ấy đã đánh chết tôi thật rồi.”
“Bà ấy hóa thành Thúc Bảo bằng cách nào?” Trương Lai Phúc rất hứng thú, vì đêm qua anh đã tận mắt thấy Cố Bách Tương biến thành Lỗ Trí Thâm.
Nhắc lại chuyện cũ, trong mắt Liễu Khởi Vân vẫn còn vẻ căm hận: “Đó là tuyệt kỹ của đào hát, gọi là ‘Hí Hồn Nhập Cốt’. Đào hát khi hóa trang thành một nhân vật nào đó sẽ có được thủ đoạn của nhân vật ấy, hát càng hay thì thủ đoạn càng gần với nhân vật trong vở diễn.”
“Ban chủ gánh hát nói với tôi, ngày đó là do tôi may mắn. Cố Liên Hương có lần từng hóa thân thành Triệu Tử Long, đại sát tứ phương trong gánh hát, từ trên xuống dưới đều bị cô ấy đánh một lượt.”
Trương Lai Phúc nhớ lại một tuyệt kỹ khác mà Khâu Thuận Phát từng giới thiệu, gọi là ‘Hí Mộng Thành Thật’, là một loại "âm tuyệt kỹ". Dương tuyệt kỹ là tự mình nhập vai, âm tuyệt kỹ là dẫn người khác nhập vai, cả hai đều vô cùng lợi hại.
Liễu Khởi Vân nói tiếp: “Tôi ở nhà dưỡng thương nửa năm không dám đến gặp cô ấy. Sau đó tôi nghe nói Cố Liên Hương bị ghẻ lạnh, không gánh hát nào chịu mời nữa. Cô ấy có không ít tiền tích cóp, cũng có nhiều mối quan hệ nên muốn tự mình mở một gánh hát, nhưng đến lời nói bình thường cô ấy cũng không nói rõ ràng được nữa.”
“Dù sao tôi cũng mủi lòng, không chấp nhặt chuyện cũ nên chạy đến nhà thăm cô ấy. Lúc thấy tôi cô ấy rất vui, vẫn còn nhận ra tôi nhưng không gọi được tên, chỉ đứng trước mặt tôi hát hết vở này đến vở khác.”
“Bẵng đi một thời gian, tôi đến thăm thì không tìm thấy cô ấy nữa. Nghe người ta nói tỳ nữ đầy tớ trong nhà đều bị cô ấy dọa chạy sạch, tiền bạc dành dụm cũng bị kẻ khác lừa hết.”
“Cô ấy đói quá, muốn tìm cái gì đó ăn, gặp người bán điểm tâm nhưng lại nói không rõ muốn mua gì, người bán đuổi đi thì cô ấy đánh người ta, cuối cùng bị bắt vào bốt cảnh sát.”
“May mà lúc đó tôi có chút quen biết, bỏ ra ít tiền chuộc cô ấy ra. Tôi đưa cô ấy về nhà, định bụng chăm sóc, nhưng cô ấy đã hoàn toàn không nhận ra tôi nữa rồi.”
“Cô ấy không bao giờ tẩy trang, cũng không thay quần áo, ngoài hát tuồng và đọc lời thoại ra thì không bao giờ nói chuyện. Có một lần tôi muốn giúp cô ấy lau mặt, nhưng lau thế nào cũng không sạch được lớp phấn son, tôi cảm thấy những lớp phấn son đó đã mọc rễ trên mặt cô ấy luôn rồi.”
“Sau đó trong thành bắt đầu đồn đại Cố Liên Hương đã thành ma, tôi đem giấu cô ấy đi. Cảnh sát đến thẩm vấn, tôi không nói. Người của Phủ Đại soái đến, tôi vẫn không chịu giao người. Mãi đến sau này, họ nói với tôi là Trừ Ma Quân sắp đến rồi, tôi thật sự sợ hãi.”
“Tôi chuẩn bị đưa cô ấy rời khỏi thành Lăng La, lúc tôi bàn bạc về nơi đi, cô ấy dắt tay tôi mà hát tuồng. Cô ấy hát cho tôi nghe vở ‘Tỏa Lân Nang’, anh đã nghe bao giờ chưa?”
Trương Lai Phúc lắc đầu. Liễu Khởi Vân mím môi cười: “Chưa nghe thì thôi, cũng chẳng phải vở gì hay ho, tôi nghe quá nhiều lần đến phát phiền rồi. Tôi bảo cô ấy là chúng ta phải đi thôi, nhưng cô ấy chỉ biết hát. Tôi giải thích tại sao phải đi, cô ấy vẫn cứ hát. Sớm biết cô ấy căn bản không hiểu đạo lý, tôi đã chẳng tốn nhiều lời như thế.”
“Tôi đi thu dọn hành lý, đem theo những thứ giá trị trong tiệm, đã chuẩn bị sẵn sàng hôm sau lên đường, kết quả ngay tối hôm đó cô ấy bỏ chạy. Người ta bảo ‘xướng ca vô loài’, cái mụ này thật sự vô tình, cứ thế mà chạy mất.”
“Bà ấy chạy đi đâu?”
Giọng điệu Liễu Khởi Vân đầy vẻ oán hận: “Ai biết cô ấy chạy đi đâu? Tôi rảnh mà canh chừng cô ấy mỗi ngày chắc? Tôi không cần sống nữa à? Tôi tìm mấy tháng trời đều không thấy, còn biết làm thế nào? Cảnh sát ngày nào cũng đến tiệm tìm cô ấy, ép tôi đến mức phải chuyển nhà, tôi còn có thể làm gì được nữa?”
“Xèo—” Nước trong ấm trà đã sôi.
“Phòng bí bách thế này, còn đun trà nóng thế kia.” Liễu Khởi Vân dùng khăn tay lau mồ hôi.
Trương Lai Phúc vuốt sợi dây sắt trong tay, hỏi: “Cô còn muốn gặp lại bà ấy một lần không?”
“Gặp làm gì? Còn chưa bị cô ấy liên lụy đủ sao? Bao nhiêu năm trôi qua rồi, tôi với cô ấy sớm đã chẳng còn tình nghĩa gì.”
Liễu Khởi Vân lại rót cho Trương Lai Phúc một chén trà, vẫn để bên môi thổi nguội rồi mới đưa vào tay anh. Trương Lai Phúc bưng chén trà, ngửi hương thơm nhàn nhạt: “Nhưng tiệm của cô vẫn tên là Ỷ La Hương.”
Liễu Khởi Vân lại lấy khăn tay lau mồ hôi: “Anh thật sự đã gặp cô ấy?”
Trương Lai Phúc gật đầu: “Gặp rồi.”
“Anh đợi tôi một chút—”
Liễu Khởi Vân rời khỏi phòng, một lát sau cô quay lại với một cái hộp gỗ.
“Nếu sau này còn gặp lại cô ấy, làm phiền anh chuyển cái này cho cô ấy, cũng coi như tôi hoàn thành một tâm nguyện.”
Liễu Khởi Vân giao chiếc hộp cho Trương Lai Phúc. Anh nhận lấy, cô lại hỏi: “Chuyện lúc nãy nói với anh, anh hãy suy nghĩ cho kỹ. Nếu anh nhượng lại cái tiệm này, muốn đặt tên là gì thì đặt, anh gọi nó là Lai Phúc Trang tôi cũng thấy khá bùi tai.”
Trương Lai Phúc lấy ra một trăm đại dương đưa cho cô: “Đây coi như là tiền thù lao.”
“Anh đưa thù lao gì cho tôi?” Liễu Khởi Vân đẩy đại dương trở lại, “Chuyện xưa tích cũ, nói ra coi như để giải khuây, anh còn khách sáo làm gì?”
Trương Lai Phúc đứng dậy ra về, Liễu Khởi Vân tiễn đến cửa, đột nhiên nói một câu: “Cái nghề này ấy mà, đủ để kiếm miếng cơm ăn là được rồi, đừng quá để tâm vào đó.”
“Cô đang nhắc nhở tôi à?” Trương Lai Phúc sững lại, “Tôi cũng đâu có quá để tâm.”
Liễu Khởi Vân cười nói: “Cứ mân mê sợi dây sắt suốt mà bảo không để tâm? Một người chị xinh đẹp thế này mời anh uống trà ngon, anh không nhìn chị cũng chẳng nếm trà, trên tay cứ nghịch dây sắt mãi. Cố Liên Hương ngày nào cũng nói tuồng, nói đến mức mình thành điên, anh đừng có vuốt dây sắt đến mức tự mình cũng thành điên đấy.”
Câu nói này vang vọng trong đầu Trương Lai Phúc một hồi lâu. Cố Bách Tương từ đầu đến cuối chỉ học mỗi một môn nghề này, bà ấy có lẽ đã quá si mê, nhưng si mê thôi thì không đến nỗi khiến người ta thành ma chứ?
Tuy nhiên, Cố Bách Tương hiện đang sống trong Ma Cảnh, người bình thường không thể ở lâu trong đó được, điều này chứng tỏ bà ấy hiện giờ chính là ma. Nhưng bà ấy không giống với những con ma thông thường. Ma đầu có lúc phát điên, cũng có lúc tỉnh táo, còn theo mô tả của Liễu Khởi Vân, sau khi Cố Bách Tương thành ma thì chưa bao giờ tỉnh lại.
Điều kiện để thành ma rốt cuộc là gì? Giống như bà ấy, một người hoàn toàn si mê vào một nghề, chẳng lẽ sẽ trở thành ma đầu hoàn toàn mất đi lý trí sao?
Trương Lai Phúc nhìn sợi dây sắt trong tay, đột nhiên không muốn vuốt nữa. Anh cất nó vào ngực, tìm một quán trà ven đường ngồi một lúc lâu. Uống trà, uống rượu, ăn đồ ngon, xem cái đẹp, chơi cái vui... tóm lại là không thể lúc nào cũng nghĩ đến dây sắt.
Hoàng hôn, Trương Lai Phúc về nhà. Những người thợ trong sân đều đã tan làm, anh mua sẵn rượu thịt, gọi Nghiêm Đỉnh Cửu và Hoàng Chiêu Tài cùng ra ăn cơm.
Trương Lai Phúc vừa vuốt đôi đũa, vừa hỏi Nghiêm Đỉnh Cửu: “Nghề kể chuyện của các anh, có ai kể đến mức phát điên không?”
Nghiêm Đỉnh Cửu ngẫm nghĩ một hồi: “Chuyện này tôi chưa từng nghe qua. Kể chuyện đều là khuyên người hướng thiện, toàn là sự nghiệp vĩ đại của các bậc đế vương tướng soái và anh hùng hào kiệt. Người ta nghe chuyện đều để học điều tốt, sao có thể kể đến mức phát điên được chứ?”
Trương Lai Phúc lại nhìn sang Hoàng Chiêu Tài: “Người học Thiên Sư hành có ai phát điên không?”
Hoàng Chiêu Tài gật đầu: “Cái này thì thật sự có. Một số người học pháp thuật nôn nóng cầu thành, kết quả bị tà môn ngoại đạo thừa cơ xâm nhập, cuối cùng mất trí phát điên, ví dụ thế này không ít đâu.”
Nôn nóng cầu thành? Cố Bách Tương là vì nguyên nhân này mà mất trí phát điên sao? Vậy mình có tính là nôn nóng cầu thành không? Trương Lai Phúc vừa vuốt đũa vừa lẩm bẩm một mình.
Nghiêm Đỉnh Cửu nghe thấy ba chữ Cố Bách Tương, liền hỏi: “Lai Phúc huynh, Cố Bách Tương mà anh nói có phải là đệ nhất danh linh phương Nam năm đó không?”
“Chính là bà ấy.”
Nghiêm Đỉnh Cửu vốn rất hâm mộ Cố Bách Tương, liền nói đỡ: “Tôi cảm thấy Cố Bách Tương không tính là mất trí phát điên. Tôi có nghe qua một số chuyện, thấy bà ấy chỉ là quá si mê hát tuồng thôi. Si mê đâu có sai, tôi thấy người làm nghệ thuật thì nên giống như bà ấy mới phải.”
Trương Lai Phúc đặt đũa sang một bên, cố gắng kiềm chế xung động muốn "vuốt", hỏi: “Anh từng nghe tuồng của bà ấy chưa?”
Nghiêm Đỉnh Cửu có chút nuối tiếc: “Chưa được nghe trực tiếp, nhưng nghe qua máy hát đĩa rồi, hát thật sự rất hay, đặc biệt là vở ‘Tỏa Lân Nang’.”
Anh ta cũng nhắc đến ‘Tỏa Lân Nang’, vở tuồng này nổi tiếng đến thế sao? “Câu chuyện ‘Tỏa Lân Nang’ kể về cái gì?”
Hễ nhắc đến kể chuyện là đúng vào lĩnh vực chuyên môn của Nghiêm Đỉnh Cửu: “‘Tỏa Lân Nang’ kể về tình thâm giữa hai người phụ nữ. Cô gái nhà giàu Tiết Tương Linh khi xuất giá, đoàn rước dâu đi đến đình Xuân Thu thì gặp mưa lớn.”
“Tiết Tương Linh trú mưa ở đó, quen biết cô gái nhà nghèo Triệu Thủ Trinh. Triệu Thủ Trinh rất nghèo, lúc xuất giá không có của hồi môn, bị người hầu nhà chồng buông lời chế giễu.”
“Tiết Tương Linh thương xót, đem chiếc túi Tỏa Lân Nang đựng của hồi môn của mình tặng cho Triệu Thủ Trinh. Nhờ vào vàng bạc châu báu trong túi, Triệu Thủ Trinh có vốn kinh doanh, giúp chồng làm ăn phát đạt, sống cuộc đời sung túc.”
“Sau này Tiết Tương Linh gặp nạn lũ lụt, thất lạc người thân, một thân một mình lưu lạc nơi đất khách, nếm đủ mọi khổ cực. Vì miếng cơm manh áo, cô phải đi làm người hầu, tình cờ lại vào đúng nhà Triệu Thủ Trinh. Đó là chuyện của nhiều năm sau, diện mạo của cả hai đều đã thay đổi, không ai nhận ra đối phương.”
“Nhưng có một thứ không đổi, đó chính là túi Tỏa Lân Nang! Tiết Tương Linh trong lúc dọn dẹp căn phòng đã nhận ra chiếc túi năm xưa của mình, cô nhìn cái túi mà rơi lệ, không kìm được khẽ ngâm nga điệu hò năm xưa ở đình Xuân Thu.”
“Điệu hò này bị Triệu Thủ Trinh nghe thấy. Sau một hồi truy hỏi, cuối cùng cũng rõ thực tình. Triệu Thủ Trinh quỳ lạy tạ ơn, gọi Tiết Tương Linh là chị, không chỉ chăm sóc chu đáo mà còn giúp cô tìm lại người thân.”
Người kể chuyện quả thực có bản lĩnh, Nghiêm Đỉnh Cửu thuật lại câu chuyện sinh động đến mức Trương Lai Phúc và Hoàng Chiêu Tài nước mắt rơi lã chã.
Trương Lai Phúc vừa vuốt cái thìa, vừa khẽ sụt sịt: “Câu chuyện này tôi mới nghe lần đầu, thật sự quá cảm động.”
Hoàng Chiêu Tài lau nước mắt: “‘Tỏa Lân Nang’ tôi nghe nhiều lần rồi, mà chưa lần nào nghe đến phát khóc thế này.”
Nghiêm Đỉnh Cửu cũng động lòng: “Rốt cuộc vẫn là tình thâm chị em.”
“Tình thâm chị em...” Trương Lai Phúc gật đầu, “Đỉnh Cửu, anh nói đúng, thật ra bà ấy không điên, trong lòng bà ấy cái gì cũng hiểu, chỉ là không nói ra được thôi. Nếu đã như vậy thì vẫn còn có thể nói đạo lý với bà ấy.”
Hoàng Chiêu Tài và Nghiêm Đỉnh Cửu đều không hiểu: “Lai Phúc huynh, anh rốt cuộc định nói đạo lý với ai?”
Trương Lai Phúc không giải thích, anh hỏi: “Đĩa hát cái thứ này biết ở đâu có bán không?”
Nghiêm Đỉnh Cửu đáp: “Ở phố Tây Dương có bán đấy. Lai Phúc huynh, anh cũng muốn nghe tuồng của Cố Bách Tướng à? Nhưng chỉ có đĩa hát thôi thì không dùng được, chúng ta không có máy hát đĩa, thứ đó đắt lắm.”
“Đắt không quan trọng, chúng ta mua một chiếc loại trung bình là được, lúc rảnh rỗi nghe khúc nhạc, nghe vở tuồng, cuộc sống thế mới gọi là hưởng phúc.”
Trương Lai Phúc đi phố Tây Dương thật, mua một chiếc máy hát tay và vài chiếc đĩa hát, trong đó có một chiếc chính là vở ‘Tỏa Lân Nang’ do Cố Bách Tương hát.
Hoàng Chiêu Tài không hiểu nhiều về hý khúc nên chỉ nghe cho vui tai. Nghiêm Đỉnh Cửu thì thật sự yêu thích, nghe mười mấy lần vẫn chưa thấy đã.
“Lai Phúc huynh, chúng ta nghe lại lần nữa đi!”
“Nghe nhiều lần thế rồi, tôi chán ngấy rồi, để hôm khác nghe tiếp.”
“Lai Phúc huynh, anh chán ngấy rồi sao còn cứ vuốt cái đĩa hát mãi thế, thật ra anh chưa nghe đủ đúng không?”
“Tôi vuốt đĩa hát là vì trên này có đường vân!”
Trên đĩa hát quả thực có đường vân, nhưng đó và đường vân mà Mạc Thiên Tâm nói là hai chuyện hoàn toàn khác nhau. Đường vân mà Mạc Thiên Tâm đề cập, cho đến nay Trương Lai Phúc vẫn chưa có khái niệm rõ ràng.
Vuốt mãi đến tận đêm khuya, Trương Lai Phúc ôm máy hát chạy đến gian chính, mở hầm ngầm ra.
Bước ra khỏi hầm ngầm, Trương Lai Phúc nhìn thấy chiếc giường nhỏ, chiếu cỏ và gian chính vẹn nguyên, điều này chứng tỏ anh đã thành công đi vào Ma Cảnh.
Anh bước ra khỏi viện, theo trí nhớ đêm qua đi về phía Cẩm Phường, đi hơn nửa giờ đồng hồ cuối cùng cũng tìm được phố Vân Cẩm. Bố cục địa lý của Ma Cảnh có sai biệt lớn với nhân gian, may mà tiệm lụa Ỷ La Hương vẫn nằm trên con phố lớn này.
Mặt tiền của tiệm lụa này nhỏ hơn tiệm Ỷ La Hương ở nhân gian, bố cục bên trong cũng khác, đại sảnh không lớn, các loại lụa là cũng không nhiều. Đây chẳng lẽ là tiệm đầu tiên mà Cố Bách Tương nhượng lại cho Liễu Khởi Vân?
Trương Lai Phúc đang suy đoán, chợt thấy Khâu Thuận Phát từ tầng hai xông xuống.
“Lão đệ, sao cậu lại tới nữa? Mau lên lầu!”
Hai người lên tầng hai. Tầng này không có nhã gian, chỉ có đủ loại kệ hàng, có lẽ đây chính là dáng vẻ ban đầu của cửa tiệm. Nhưng Liễu Khởi Vân từng nói sau khi Cố Bách Tương mất tích, cô đã đổi tiệm khác, tại sao cái tiệm từ những năm đầu này lại xuất hiện trong Ma Cảnh? Cảnh tượng Ma Cảnh và nhân gian giống nhau đến thế, nhưng lại có nhiều điểm khác biệt, rốt cuộc là do nguyên nhân gì?
“Lão đệ, cẩn thận!” Trương Lai Phúc đang mải suy nghĩ, không chú ý dưới chân, suýt nữa dẫm phải một quả dưa hấu.
Khâu Thuận Phát nhanh tay giữ anh lại: “Chỗ kệ hàng bên kia đừng có tới, phía cầu thang cũng phải cẩn thận.”
Lúc này Trương Lai Phúc mới chú ý thấy trên sàn gỗ đặt không ít dưa hấu.
“Đây là bẫy tôi làm để phòng bị Cố Bách Tương đấy!” Khâu Thuận Phát hé cửa sổ, cẩn thận quan sát dưới lầu.
“Cố Bách Tương đang ở chỗ nào?” Trương Lai Phúc lấy một cái thước dây trên kệ hàng, đặt trong tay vuốt vuốt.
“Cố Bách Tương ở ngay gần đây. Lão đệ, cậu đến lầm chỗ rồi, bà ta cứ nhìn chằm chằm vào tôi, giờ cậu đến rồi muốn đi cũng khó đấy.” Trong mắt Khâu Thuận Phát đầy tơ máu, ông đã chuẩn bị sẵn tinh thần liều chết, “Lão đệ, cậu đến sai chỗ rồi.”
Trương Lai Phúc lấy một miếng lụa vuốt ve: “Khâu đại ca, tôi đến để cứu anh.”
Khâu Thuận Phát lo lắng: “Cậu cứu tôi cái gì? Cậu đây rõ ràng là hại tôi! Lúc trước là tôi dạy sai cho cậu, làm hỏng đời học trò. Tôi cứu cậu một lần coi như trả cậu một mạng, chuyện này vốn dĩ đã qua rồi, giờ cậu lại đến cứu tôi, nghĩa là tôi lại nợ cậu một mạng, lần này cậu bảo tôi trả thế nào?”
Đang nói chuyện, bên ngoài lại vang lên một tràng tiếng đọc lời thoại dõng dạc.
“Trương Cáp tiểu nhi nghe cho rõ! Ngươi là hạng phu tử không mưu đồ, rụt đầu trên lầu quan, giống như lũ chuột nhắt, có dám cùng Trương Tam gia ngươi quyết một trận tử chiến chăng? Nếu không dám ra, sớm mà hiến quan đầu hàng, để tránh Tam gia ngươi giết vào trong thành, gà chó không tha!”
Trương Lai Phúc nhìn ra ngoài, dưới lầu đứng một tráng hán mặc bộ giáp đen, lưng cắm cờ lệnh. Thân dưới mặc quần thái thanh, ống quần túm gọn trong đôi ủng đế dày. Trên đầu quấn khăn đen, bên mang tai cắm chéo lá từ cô xanh ngắt, mặt hoa vẽ nền đen đậm, một đường vân đen từ đỉnh trán thẳng xuống chóp mũi, hai hốc mắt vẽ cong cong, lót chút phấn hồng nhạt nơi gò má, dưới cằm thắt bộ râu đen rậm rạp, sợi nào sợi nấy cứng cáp, nhìn có khí thế vạn phu bất đương.
Trương Lai Phúc chỉ vào tráng hán đó, quát lớn một tiếng: “Kẻ đến là ai!”
Tráng hán ngẩng đầu lên, quát: “Ta chính là người đất Yên, Trương Dực Đức đây!”
Hắn gầm lên một tiếng, kính của tiệm lụa vỡ vụn mấy miếng. Trương Lai Phúc rụt người sau quầy, ôm ngực xoa bóp hồi lâu, suýt chút nữa nôn ra cả mật xanh mật vàng.
“Cố Bách Tương lại đến rồi, lão đệ, bảo trọng!” Khâu Thuận Phát một tay cầm dao bổ dưa, một tay cầm cây thước gỗ, định lao xuống liều mạng.
Trương Lai Phúc giật lấy con dao, cầm trong tay vuốt vuốt: “Anh định làm gì nữa?”
“Tôi ra ngoài liều mạng với bà ta, đợi tôi giữ chân bà ta, cậu mau chạy đi!” Khâu Thuận Phát giật lại con dao, ông không hiểu tại sao Trương Lai Phúc lại cứ vuốt dao lúc này.
“Sao lại là đợi anh giữ chân bà ấy? Anh lại định cứu tôi lần nữa à?” Trương Lai Phúc giật lấy cây thước gỗ, cầm trong tay vuốt một hồi lâu.
“Tôi cứu cậu là việc nên làm, chuyện này bắt đầu từ việc tôi dạy sai mà ra. Trước đây tôi cứu cậu coi như bù đắp lỗi lầm, mà nay cậu lại đến cứu tôi, nghĩa là tôi nợ cậu, giờ tôi lại đi cứu cậu thì mới xóa sạch được món nợ này. Cậu có thể đừng vuốt nữa được không?” Khâu Thuận Phát cũng giật lại cây thước, ông nhìn Trương Lai Phúc cái gì cũng vuốt mà thấy khó chịu vô cùng.
“Ta khoan hãy nói về khởi nguồn chuyện này, ta hãy nói xem cái chuyện ‘dạy sai người’ này tính thế nào?” Trương Lai Phúc ôm một quả dưa hấu tiếp tục vuốt.
Khâu Thuận Phát ngẩn người: “Chuyện này còn phải tính sao? Chẳng phải lúc trước nói rõ rồi sao? Tôi không biết tại sao Cố Bách Tương lại thành ma, vậy mà còn ở đây nói hươu nói vượn với cậu, đó chẳng phải dạy sai người là gì?”
Trương Lai Phúc lắc đầu: “Anh không dạy, tôi không học, vậy thì không tính là dạy sai người.”
Khâu Thuận Phát nhớ lại tình cảnh đêm đó: “Tôi nói rồi tức là dạy rồi, cậu nghe rồi tức là học rồi, sao có thể gọi là không dạy không học?”
“Anh đúng là có nói, tôi đúng là có nghe, nhưng tôi không trả tiền, đây chẳng phải là không dạy không học sao?” Trương Lai Phúc vừa vuốt quả dưa hấu vừa làm rõ chuyện này.
“Không trả tiền thì tính là không dạy không học sao?” Khâu Thuận Phát chưa thông suốt lắm.
“Anh nghĩ xem tại sao anh lại xử lý Vinh Lão Ngũ?”
“Hắn thuê tôi dạy học mà không trả học phí.”
“Đúng là vậy, thuê người dạy học phải trả học phí là lẽ đương nhiên. Tôi không thuê anh dạy học, cũng không đưa tiền cho anh, anh nói sai thì tự nhiên cũng không tính là dạy sai người.”
Nghe thấy lời này, Khâu Thuận Phát ôm lấy quả dưa hấu ngồi bệt bên tường, cùng Trương Lai Phúc vuốt. Vuốt một hồi lâu, tơ máu trong mắt ông cũng dần tan đi.
“Anh thật sự không thuê tôi dạy học?”
“Không có, cho nên anh ở chỗ tôi cũng không bao giờ có chuyện dạy sai người.” Khâu Thuận Phát đặt quả dưa hấu xuống, chấp niệm trong lòng cũng buông bỏ.
Nhưng Cố Bách Tương vẫn chưa buông bỏ, bà ấy vẫn đang chửi bới thách đấu dưới lầu. Bà ấy mà xông lên, Khâu Thuận Phát và Trương Lai Phúc cộng lại cũng chưa chắc đánh thắng được.
Trương Lai Phúc đặt đĩa hát lên máy hát tay, quay tay cầm, phát bản nhạc ‘Tỏa Lân Nang’.
“Tương tặng hà tu bình thủy giao, nhân sinh tụ tán bản bình phiêu. Tha nhật nhược toại lăng vân chí, vật vong kim triêu tặng nang kiều.”
Giọng hát tuyệt mỹ, từng chữ từng câu đều lẩn quất nơi đầu quả tim, khiến người ta không dứt ra nổi. Đây chính là đoạn hát của Cố Bách Tương năm nào. Khâu Thuận Phát lặng lẽ nhắm mắt lại, cảm thấy Tiết Tương Linh và Triệu Thủ Trinh như đang ở ngay trước mắt, nhìn nhau cười, tay cùng cầm túi Tỏa Lân Nang.
Có lẽ đã quá lâu không nghe tuồng, cũng có lẽ do Cố Bách Tương hát quá hay, Khâu Thuận Phát không kìm được rơi nước mắt. Khóc xong, ông tỉnh táo hơn một chút, lo lắng ngăn Trương Lai Phúc lại: “Đừng để Cố Bách Tương nghe thấy tuồng, bà ta càng nghe, thủ đoạn càng tàn độc.”
Trương Lai Phúc lắc đầu: “Đoạn tuồng này đặc biệt, nơi này cũng đặc biệt. Bà ấy ở nơi này, nghe đoạn tuồng này thì không tàn độc nổi đâu.”
Cố Bách Tương vẫn lặng lẽ đứng dưới lầu, bộ giáp trên người đã biến mất, thân hình vạm vỡ trở nên mảnh mai. Bà khoác một chiếc áo choàng đỏ tươi thêu mẫu đơn, hoa sen trải khắp thân áo, tay áo lụa rộng dài khẽ nhấc tựa như ráng hồng lướt qua.
Lớp trang điểm trên mặt cũng đổi khác, lông mày viễn sơn thanh mảnh, thoa nhẹ chút phấn hồng, giữa trán cài một đóa hoa nhung đỏ thắm, hệt như một thiếu nữ khuê các thẹn thùng.
“Tiết Tương Linh,” Khâu Thuận Phát nhỏ giọng nói, “Đây là hóa trang của Tiết Tương Linh.”
Đợi nghe xong khúc nhạc, Cố Bách Tương quay người định đi. Khâu Thuận Phát mừng rỡ: “Lão đệ, cậu đi trước đi, tôi đoạn hậu.”
Hai người vừa xuống lầu, lại thấy Cố Bách Tương đột nhiên hiện thân trước mặt, đôi mắt nhìn chằm chằm vào chiếc máy hát trong lòng Trương Lai Phúc. Khâu Thuận Phát cầm dao bổ dưa chuẩn bị chiến đấu.
Trương Lai Phúc hỏi: “Bà còn muốn nghe lại lần nữa không?”
Cố Bách Tương khẽ lắc đầu, bà nhìn anh với vẻ cảnh giác, dường như đang do dự có nên ra tay hay không. Khâu Thuận Phát nghiến răng: “Oan có đầu nợ có chủ, Cố Bách Tương, hai chúng ta lại quyết sinh tử!”
Ông vừa định lao lên, Trương Lai Phúc đã nhét chiếc máy hát vào tay ông. Anh lấy từ trong vạt áo ra một chiếc hộp gỗ, đưa cho Cố Bách Tương: “Đây là Liễu Khởi Vân nhờ tôi mang cho bà.”
Cố Bách Tương nhận lấy chiếc hộp mở ra xem. Trong hộp là một chiếc sườn xám màu trắng trăng, vải là lụa Cát Ti mềm mại, dệt hoa văn mây chìm mịn mượt như mỡ đông. Cổ áo đứng, viền một vòng tơ cực mảnh màu xanh mực, trên vạt áo đính bảy chiếc cúc ngọc trai tròn trịa, phần eo thắt cực khéo. Tà áo thêu mấy nhành lan thanh đạm, đường kim mũi chỉ vô cùng tâm huyết.
Cố Liên Hương vốn kén chọn áo quần, người bình thường không nhớ nổi yêu cầu của bà, nhưng có một con bé chạy việc năm xưa đã nhớ kỹ. Cho đến tận bây giờ, Liễu Khởi Vân vẫn còn nhớ.
Cố Bách Tương dùng đầu ngón tay chạm nhẹ vào chiếc áo rồi rụt tay về. Bà không kìm được chạm thêm cái nữa, nhưng lại làm chiếc sườn xám rơi khỏi hộp. Áo rơi xuống đất dính chút bùn, bà xót xa vô cùng, vội vàng nhặt lên, dùng tay áo lau đi lau lại cho sạch rồi ôm chặt vào lòng.
Bà ngẩng đầu nhìn Trương Lai Phúc, hồi lâu mới nói ra một câu niệm bạch: “Vị công tử này, muội muội của tôi vẫn tốt chứ?”
“Vị ấy vẫn tốt.” Trương Lai Phúc không biết hát tuồng, nhưng không khí đã đến mức này, anh cũng bèn hắng giọng đáp theo.
“Là tôi đã kéo lụy muội muội.” Cố Liên Hương ôm chiếc sườn xám thật chặt.
“Bà không kéo lụy cô ấy, chỉ là bà không nên bỏ lại cô ấy.” Trương Lai Phúc ra hiệu cho Khâu Thuận Phát phát nhạc.
Khâu Thuận Phát quay máy hát, vở ‘Tỏa Lân Nang’ lại vang lên. Trương Lai Phúc hiểu rằng, Liễu Khởi Vân từ đầu đến cuối luôn miệng phàn nàn, nhưng thật ra mỗi lời nói của cô đều là nỗi nhớ nhung da diết.
“Anh hãy nói với cô ấy, chị đây đời này không gặp cô ấy nữa đâu.” Những giọt lệ của Cố Liên Hương rơi xuống chiếc sườn xám.
Trương Lai Phúc lắc đầu: “Lời đừng nói tuyệt quá, nếu đã nói tuyệt rồi, muội tử nhà bà trong lòng cũng đau lòng lắm.”
“Cô ấy mà gặp tôi, e là còn đau lòng hơn. Anh xem cái bộ dạng không ra người không ra ma này của tôi, lại để công tử chê cười rồi.”
“Dáng vẻ của bà tốt lắm. Nếu thấy còn chưa đủ tốt thì hãy về thu xếp lại cho ổn thỏa, rồi hãy đi gặp muội tử nhà bà.”
Cố Bách Tương ôm quần áo gật đầu, lại nhìn vào cái hộp trong tay Trương Lai Phúc.
“Cái hộp này là muội muội cho tôi, anh đừng vuốt nó nữa.”
Trương Lai Phúc vội vàng trả lại hộp cho bà. Cố Bách Tương ôm lấy nó, bóng hình dần biến mất bên bờ sông Chức Thủy.
Đề xuất Tiên Hiệp: Vạn Đạo Trường Đồ