Chương 1114: Chiến đấu kịch liệt ở cửa cốc.
Chương 1114: Chiến đấu kịch liệt ở cửa cốc.
Một vạn kỵ binh quân Hán dưới sự chỉ huy của Đại tướng Bàng Đức và Phó tướng Lãnh Bao đã trùng trùng điệp điệp thẳng hướng Hà Hoàng, đại đội kỵ binh lao nhanh trong đêm tối đen như mực, cuốn bụi vàng cuồn cuộn trên đường, chỉ có hành quân ban đêm mới không bị chú ý, ánh trăng vắng lặng chiếu lên khôi giáp của binh lính, phát ra tia sáng kim loại lấp lánh, từng đội nối tiếp nhau, giống như một cơn lũ sắt thép tuôn trào về phía tây.
Đội kỵ binh này vừa mới quay về từ Hợp Phì, còn chưa kịp hưởng thụ vinh quang của thắng lợi, cũng không kịp đoàn tụ với người thân, lại phải lên đường viễn chinh, chạy tới Hà Tây đang sắp bị phân liệt.
Trước các kỵ binh, đã có năm trăm tướng sĩ của Ưng kích quân xuất phát trước, chạy tới Đại Đấu Bạt Cốc, một khi Đại Đấu Bạt Cốc thực sự bị quân đội Mã Siêu chiếm lĩnh, địa hình hiểm trở không phải là thế mạnh để kỵ binh có thể công phá được, phải dùng quân đội đặc thù mới có hy vọng, quân đội đặc chủng của quân Hán chính là Ưng Kích Quân.
Trên thực tế, bản thân Đại Đấu Bạt Cốc đã thuộc Hà Tây cai quản, do một Nha tướng dẫn đầu một ngàn binh lính đóng giữ, đều là bộ hạ của Mã Siêu, chỉ có điều Lưu Cảnh không biết, Nha tướng và một ngàn binh lính đóng giữ này đã bị binh lính quân Khương thay thế chưa, một khi thay thế thì cục diện mà họ phải đối mặt sẽ trở nên phức tạp, họ phải công chiến cửa cốc, hơn nữa còn không được để cho Hà Tây biết được, nếu không sẽ kích động Mã Siêu động thủ trước.
Mấy ngày sau, đại đội kỵ binh tiến vào quận Lũng Tây, cách Đại Đấu Bạt Cốc đã không còn xa, còn trong lúc này, năm trăm binh lính Ưng Kích Quân đã tới đích, họ ẩn mình trong một khe núi cách Đại Đấu Bạt Cốc khoảng hai mươi dặm.
Phó tướng Nhậm Bình chỉ huy hơn mười người đi trước dò xét tin tức, số binh lính còn lại đều ở trong thung lũng uống nước ăn lương khô, tranh thủ thời gian nghỉ ngơi, để bất cứ lúc nào cũng duy trì được thể lực dồi dào, đội quân này đã thân kinh bách chiến từ lâu, không cần căn dặn, họ đều biết mình nên làm gì.
Chủ tướng Lưu Chính ngồi trên một tảng đá lớn, kiên nhẫn đợi tin tức của Nhậm Bình, lúc này, tiếng ngựa chạy khe khẽ mà dồn dập truyền đến, mười mấy chiến mã móng quấn vải gai dày đã chạy đến cửa cốc, là đội của Phó tướng Nhậm Bình đã trở về, phía sau một con chiến mã trong đó còn chở một bao vải.
Lưu Chính phấn chấn, vội vàng nhảy xuống khỏi tảng đá lớn, ra đón họ: - Tình hình thế nào rồi?
- Đúng như Điện hạ lo lắng!
Nhậm Bình trầm giọng trả lời, y quay đầu vẫy tay, hai tên lính khiêng bao vải lớn lại, cởi bỏ dây thừng, một tên lính hai tay bị trói chặt, miệng nhét vải gai xuất hiện trong bao vải, nhìn ngoại hình của gã, rõ ràng là một tên lính người Khương.
- Đây là một binh lính tuần tra ở cửa cốc, bị chúng ta bắt được, gã sẽ nói cho Tướng quân tất cả tình báo.
Lưu Chính rút dao găm, lôi vải gai trong miệng tên lính ra, lưỡi dao sắc bén kề sát vào cổ gã, Lưu Chính lạnh lùng hỏi: - Trong Đại Đấu Bạt Cốc còn có bao nhiêu binh lính quân Hán?
Ý của Lưu Chính là hỏi còn có bao nhiêu binh linh người Hán, câu này Nhậm Bình đã hỏi rồi, tên lính người Khương mãi sau mới đáp: - Không còn nữa, toàn bộ là người Khương và người Đê.
Lưu Chính lại hỏi thêm vài câu, tên lính người Khương trả lời ấp a ấp úng, Lưu Chính vô cùng sốt ruột, không hỏi gã nữa mà quay đầu nói với Nhậm Bình: - Ngươi đã hỏi gã rồi, hãy nói cho ta biết tình hình ở cửa cốc.
Nhậm Bình bước đến trước một tảng đá lớn, bày ra mấy viên đá, nói với Lưu Chính: - Đây chính là cửa cốc, trước mắt cửa cốc có khoảng một ngàn lính, chia làm hai điểm trú binh.
Nhậm Bình lại dùng hai viên đá nhỏ đặt hai bên tảng đá lớn.- Đây chính là hai điểm đóng quân, hoàn toàn giống như trên bản đồ, một phía bắc, một ở phía nam, cách nhau mười lăm dặm, mỗi điểm có năm trăm lính, họ liên lạc với Hà Tây bằng chim ưng đưa thư.
- Chim ưng đưa thư ở đâu? Lưu chính trầm giọng hỏi, đây là vấn đề y quan tâm nhất.
- Thám báo nói, ưng nô đều ở doanh trại phía bắc.
Lưu Chính trầm tư một lát mới nói tiếp: - Chúng ta phải chia quân ra hai đường, ta dẫn một nửa huynh đệ tới doanh trại phía bắc, ngươi phụ trách chiếm lấy doanh trại phía nam, đồng thời ra tay, phải vừa nhanh vừa mạnh, chém tận giết tuyệt!
Nhậm Bình gật đầu lại hỏi: - Khi nào động thủ?
Lưu Chính nhìn ánh trăng:
- Giờ là khoảng canh một, ta dẫn quân leo đi từ núi phía sau, không tốn bao nhiêu thời gian, vào canh ba chúng ta đồng thời hành động!
Nhậm Bình cười nói: - Canh ba chính là lúc phần lớn mọi người dạy đi tiểu đêm, chi bằng canh bốn ra tay, ta nghĩ sẽ nắm chắc hơn.
Lưu Chính hiểu được ý của Nhậm Bình, thực ra là cho mình thêm chút thời gian, dù sao vách núi đá vô cùng khó đi, phải đi mười lăm dặm cũng không dễ, y nghĩ một lát liền vui vẻ đồng ý: - Vậy đổi sang canh bốn động thủ đi!
Hai người lập tức chia binh, Lưu Chính dẫn ba trăm người chạy tới bên ngoài cửa cốc, còn Nhậm Bình dẫn hai trăm người lặng lẽ lần mò về phía trong cửa cốc.
Đại Đấu Bạt Cốc là một đoạn cốc phía đông nam trong dãy núi Kỳ Liên kéo dài ngàn dặm, hình thành một con đường tắt từ Hà Tây nối thông với Hà Hoàng ở Lũng Tây, nơi này cao ba ngàn năm trăm mét so với mặt biển, trên đỉnh núi quanh năm tuyết đọng, đoạn cốc dài khoảng trăm dặm, có hình thế bắc rộng nam hẹp, trong đó mấy chục dặm phía nam là hẹp và hiểm trở nhất, khe núi chỉ rộng hơn mười trượng, cửa ải hiểm yếu, hai bên khe sâu là những ngọn núi kỳ quái đứng sừng sững, vách đá cao chót vót, dày đặc những viên đá hình thù kỳ dị, có thể nói là một người trấn ải, vạn người không qua được.
Đại Đấu Bạt Cốc thuộc Hà Tây cai quản, ngay từ đầu nơi đây đã được bố trí một ngàn quân Hán, nhưng vào mùa hè năm ngoái, trong lúc trận chiến Hợp Phì kịch liệt và say sưa nhất thì nội bộ Hà Tây đã thực hiện điều chỉnh lớn trong đóng quân, một vạn quân Hán bị điều đến quận Đôn Hoàng ở phía bắc và quận Võ Uy ở phía nam, còn ba quận Trương Dịch, Tửu Tuyền và Cư Diên lại do hai vạn quân đội người Khương Đê đóng giữ.
Trú quân ở Đại Đấu Bạt Cốc cũng bị thay đổi, một ngàn quân Hán trước đây đã bị điều đi, đổi thành một ngàn lính Khương, binh lính người Khương và Đê về danh nghĩa cũng là quân Hán, nhưng họ lại chỉ nghe theo mệnh lệnh của Mã Siêu, không thèm để ý tới quân lệnh của Trường An.
Đây cũng là một ẩn họa để lại từ năm trước, khi quân Hán tiến công Lũng Tây và Hà Hoàng, đã đánh tan hoàn toàn người Khương và người Đê, còn cho họ ở chung với người Hán, chuyển sang canh tác nông nghiệp, còn chuyên một số bộ lạc kiên quyết không chịu chuyển sang nông canh tới cao nguyên Thanh Hải, khiến cho bộ lạc Khương Đê ban đầu không ngừng bị thu nhỏ và tiêu vong trong mấy năm về sau.
Còn với người Khương và Đê ở Hà Tây, Lưu Cảnh khi đó lo mức độ thay đổi quá lớn, sẽ dẫn tới sự phản kích của người Khương ở Linh Châu và người Hung Nô ở Quan Nội, do đó đã giữ lại bộ lạc ban đầu, không tiến hành cải tạo nông canh như Lũng Tây và Hà Hoàng, điều này khiến người Khương và Đê ở Hà Tây chỉ thần phục nước Hán về bề ngoài mà thôi.
Trong khi đó sau khi lính Khương tham gia tấn công người Hung Nô, đặc biệt là người Hung Nô ở Cư Diên Hải bị tiêu diệt, việc phân phối lợi ích liên quan đã dấy lên sự bất mãn mạnh mẽ của người Khương và người Đê ở Hà Tây, mấy tù trưởng bộ lạc lớn bắt đầu bàn bạc đòi tự lập, đi đến nhất trí với Mã Siêu trong chuyện mưu tính khôi phục Tây Lương.
Một ngàn lính Khương được bố trí trong Đại Đấu Bạt Cốc chính là quân trực thuộc của Mã Siêu, dùng chim ưng đưa thư để liên lạc với thành Trương Dịch, tuy nhiên lúc này do Mã Siêu còn chưa công khai khởi binh tự lập nên phòng ngự trong Đại Đấu Bạt Cốc cũng không đặc biệt nghiêm mật, chưa bước vào trạng thái thời chiến, chỉ là đóng giữ giống như bình thường, đúng giờ đổi trạm đổi gác cho nhau, lính gác cũng không nhiều, quân kỷ cũng không đủ nghiêm khắc, ví như mất tích một lính gác nhưng không khiến quân canh giữ cảnh giác hơn.
Nhậm Bình dẫn hai trăm binh lính chạy gấp trên đường, lần lượt nhổ được hai trạm gác, dần dần tiến sát quân doanh đóng quân.
Quân doanh phía nam nằm ở trong cửa ải khe núi, chân núi là mấy chục doanh trướng, trên sườn núi có một tòa quân bảo, chân núi có bất kỳ động tĩnh gì thì trong quân bảo sẽ lập tức phát hiện ra, sau đó bắn khói lửa thông báo cho quân doanh phía bắc, sau đó quân doanh phía bắc sẽ thả chim ưng đưa thư thông báo tới thành Trương Dịch.
Ưng Kích Quân mai phục ở cách cửa ải khe núi mấy trăm bước, chờ đợi thời gian đã hẹn đến gần, Nhậm Bình quan sát địa hình xung quanh, địa hình ở đây về cơ bản thống nhất với địa hình trên sa bàn mà họ nhìn thấy trước khi xuất phát, nhưng có một số chi tiết không thể hiện trên sa bàn.
Ví như cửa cốc có hàng rào gỗ to, mấy tên lính tuần tra đi lại trong hàng rào, chủ yếu là ngăn mãnh thú xâm nhập, sói và báo hoang cùng các mãnh thú khác trong Đại Đấu Bạt Cốc cực nhiều, đe dọa an toàn của những thương khách qua lại, đồng thời cũng là mối uy hiếp lớn đối với binh lính đóng quân, giống như khi họ phát hiện mất tích một tên lính gác, phản ứng đầu tiên là chắc đã bị mãnh thú tấn công, đây là chuyện thường thấy trong khe núi, họ cũng không để tâm lắm.
Nhậm Bình quan sát một lát, trong lòng đã có tinh toán, y gọi mấy Bộ tướng lại thì thầm dặn dò mấy câu, rồi lập tức dẫn năm mươi người đi vòng từ bên hông hướng tới tòa quân bảo ở giữa sườn núi.
Thời gian dần trôi đi, trong khe núi vẫn yên lặng, thấy sắp đến canh bốn, đây là lúc mọi người thường ngủ say nhất vào ban đêm, mọi âm thanh trong khe núi đều không còn, ngay cả loài chim kiêu hoạt động vào đêm cũng không thấy bóng dáng.
Nhậm Bình dẫn năm mươi thuộc hạ đã leo đến vách đá ở phía sau quân doanh, cách quân bảo trên sườn núi chỉ hơn mười trượng, Nhậm Bình chăm chú nhìn một bóng đen trên đỉnh quân bảo, đó là một tên lính đang quấn thảm quanh người ngủ say trong góc, đỉnh quân bảo chính là chỗ phóng khói lửa, ở đây chắc chắn có binh lính canh gác.
Chỉ có điều hiện giờ không phải thời chiến, chỉ đi tuần như bình thường, các binh lính đều không cảnh giác, tên lính canh trạm đương nhiên không thức nổi, đang trốn trong góc ngủ.
Nhậm Bình khoát tay, tất cả mọi người đều im lặng, y chậm rãi giơ thủ nỏ lên, ngắm chuẩn vào bóng đen cao mười mấy trượng, thủ nỏ này chuyên dụng cho thám báo, kích thước không bằng một nửa quân nỏ thông thường, cực kỳ nhẹ nhàng, có thể bắn bằng một tay, tầm bắn sát thương chỉ khoảng ba mươi bước, tên nỏ dài bốn tấc, đầu mũi tên có bôi kịch độc, gặp máu là tỏi, đây là vũ khí tốt nhất để phục kích trạm gác ngầm.
Tạch! một tiếng vang nhỏ, tên nỏ ngắn và nhỏ bắn ra như tia chớp, trúng vào cổ của binh lính đang ngủ say, tên này kêu lên một tiếng đau đớn, co giật hai cái rồi chết luôn.
Lúc này, Nhậm Bình lại khoát tay, mười mấy sợi dây thừng được ném xuống, năm mươi binh lính nuối nhau leo xuống, từng người nhanh nhẹn như khỉ vượn nhảy lên đỉnh tòa quân bảo.
Họ lấy ống trúc ra, thổi vào lượng lớn khói mê lên tầng chót của quân bảo, lát sau, mười mấy binh lính đá văng cửa sổ chui vào trong, nhanh chóng giết chết tên lính canh giữ trong tầng chót, họ cứ thế mà làm, không lâu sau đã giết chết toàn bộ binh lính trong ba tầng quân bảo, kể cả một gã quân hầu và mấy tên đồn trưởng.
Đúng lúc này, phía xa bỗng xuất hiện ánh lửa, mơ hồ có tiếng kêu la vang đến, lúc này quân doanh phía bắc đã nổ ra cuộc chiến ác liệt, Nhậm Bình quyết đoán kịp thời, một cây hỏa tiễn được bắn ra, đây là tín hiệu xuất kích, một trăm năm mươi binh lính mai phục dưới chân núi nhất loạt ào ra, chạy về phía hàng rào của khe núi.
Người Khương để đề phòng sói hoang và mãnh thú xâm nhập, đã chọn trú doanh ở một khe núi, còn cắm hàng rào gỗ to ở miệng khe, như thế, quả thật có thể phòng ngừa mãnh thú tấn công ban đêm một cách hiệu quả.
Nhưng mọi việc có lợi tất có hại, hạ trại như thế này lại khiến trú binh dễ bị quân địch ngăn ở trong khe núi, Nhậm Bình chính là đã lợi dụng nhược điểm này trong đại doanh của đối phương, đánh lén quân bảo trên sườn núi, khiến quân Hán chiếm được ưu thế nhìn từ trên cao xuống.
Năm mươi tên lính lưng vác túi da dầu hỏa, họ lần lượt gỡ túi da ra, phun dầu hỏa xuống đại doanh dưới chân núi, sau đó ném mấy cây đuốc xuống khe núi, trong quân doanh lập tức bốc lửa cháy rừng rực.
Đề xuất Voz: Em là đồ ngốc