Chương 1163: Huynh đệ tương tàn.

Chương 1163: Huynh đệ tương tàn.

Đấu tranh phe phái vẫn luôn là ‘tật khó sửa’ của chính quyền Giang Đông, không chỉ có phe phái quan văn đấu tranh ác liệt mà các võ tướng cũng thế. Trong chuyện này tất nhiên là Tôn Quyền cố ý dấy lên, dù sao đây cũng là cái ‘tinh túy’ trong thuật của đế vương, thần tử nội chiến, quân vương được lợi.

Nhưng ở mặt khác cũng có liên quan đến kết cấu chính trị Giang Đông. Giang Đông từ thời Tôn Sách xuống phía nam thế như trẻ tre, rất nhanh đã có thể ổn định được quận Đan Dương, Ngô Quận và quận Hội Kê. Nguyên nhân cơ bản là có được sự ủng hộ của thế gia Giang Đông, Tôn Sách “có qua có lại”, khiến cho nhân tài thế gia Giang Đông lần lượt gia nhập vào chính quyền mới thành lập của Giang Đông.

Nhưng Tôn Sách lại lo sợ thế lực lớn mạnh của sĩ tộc Giang Đông, nên lại chiêu mộ sĩ tộc phương bắc và sĩ tộc Giang Hoài như đám người Trương Chiêu, Trương Hoành, Chu Du, Lỗ Túc. Sau khi Tôn Sách chết, Tôn Quyền kế vị, chính quyền Giang Đông bắt đầu ‘khuếch trương’, sĩ tộc Giang Đông giới thiệu lẫn nhau, khiến cho thế lực của sĩ tộc Giang Đông không ngừng tiến vào chính quyền Tôn thị.

Trong khi đó, Tôn Quyền tiếp nối “thuật cân bằng” của huynh trưởng, xây dựng quán ‘chiêu hiền’ ở Giang Bắc, thu hút được những nhân tài phương bắc xuôi xuống phía nam như Gia Cát Cẩn, Từ Thịnh, Lã Mông.

Những nhân tài phương bắc xuống phía nam nhất định sẽ bị những sĩ tộc bản địa chống lại. Do các sĩ tộc bản địa liên hôn lẫn nhau, kết giao trăm năm, mối quan hệ khó gỡ, rất dễ dàng kết thành đồng minh trong chốn quan trường. Còn những sĩ tộc phương bắc bị đàn áp cũng phải liên minh lại với nhau, từ đó hình thành nên những phe phái.

Dưới sự cố ý trợ giúp của Tôn Quyền, Giang Đông nhanh chóng hình thành phái phương bắc, phái Lư Giang và phái bản địa Ngô Việt, mà Giang Đông dời đô đến Kiến Nghiệp đã đả kích rất lớn đến phe phái bản địa. Phái Ngô Việt phân chia thành phái Cố Lục Ngô và phái Ngu thị Hội Kê. Sau khi Chu Du chết, phái Lư Giang suy bại, phái phương bắc không ngừng lớn mạnh. Để giữ cân bằng phái phương bắc, Tôn Quyền bắt đầu trọng dụng ngoại thích, để Bộ Chất cầm đầu phái ngoại thích nổi dậy.

Trong quân đội cũng hình thành rất nhiều phe phái, tồn tại phái lão tướng, phái trung lưu và phái của những người trẻ tuổi. Phái lão tướng chỉ những lão tướng đi theo Tôn Kiên như Trình Phổ, Hoàng Cái, Hàn Đương, còn phái trung lưu là những dũng tướng đi theo Tôn Sách lập nên cơ nghiệp Giang Đông, bao gồm những đại tướng như Chu Du, Thái Sử Từ, Tưởng Khâm, Trần Vũ, Đổng Tập, Phan Chương, Lăng Thao, Chu Thái.

Phái của những người trẻ tuổi là những nhân tài mới xuất hiện sau khi Tôn Quyền nắm quyền, bao gồm các tướng lĩnh trẻ như Lã Mông, Lục Tốn, Đinh Phụng, Từ Thịnh, Lăng Thống.

Ở thời Tôn Sách và thời kỳ đầu của Tôn Quyền, quân Giang Đông là thiên hạ của phái trung lưu. Nhưng cùng với việc địa vị Tôn Quyền dần dần được củng cố, y bắt đầu có ý diệt trừ những ảnh hưởng của huynh trưởng Tôn Sách trong quân đội để thiết lập quyền uy của riêng mình. Phái trung lưu cũng dần dần bắt đầu thất thế, đặc biệt là sau khi các đại tướng trung lưu như Chu Du, Thái Sử Từ, Trần Vũ, Phan Chương, Lăng Thao, … lần lượt chết bệnh hoặc tử trận nên phái trung lưu cũng hoàn toàn thất thế, đổi lại phái lão tướng và phái trẻ nổi dậy. Lục Tốn và Lã Mông trong phái trẻ lần lượt đảm nhận chức Đại đô đốc.

Tưởng Khâm và Chu Thái là đồng hương, hai người cùng gia nhập vào quân Giang Đông, thời kỳ đầu, quan hệ của hai người rất tốt. Nhưng chuyện thế gian vốn là như vậy, những người có mối thâm tình lại dễ dàng trở thành kẻ thù của nhau. Vì vậy, Nho gia mới có quan niệm “quân tử chi giao đạm như thủy” (tình bạn của quân tử nhạt như nước).

Vì Tưởng Khâm và Chu Thái không “đi chung đường” nên cuối cùng càng lúc càng xa. Hiện giờ Tưởng Khâm là nhân vật đại diện cho phái trung lưu, còn Chu Thái đã rời khỏi phái trung lưu, trở thành phái những người theo vua, cũng là tâm phúc của Tôn Quyền.

Tất nhiên, hai người không chung ý chí không đi chung đường nên quan hệ của hai người dần lạnh nhạt, hơn nữa còn không nói chuyện được. Nhưng sự việc xảy ra vào tối hôm nay lại “đủ” để hai người trở thành kẻ thù.

Mười mấy tên thuộc hạ của Tưởng Khâm bị bắt, thái độ Chu Thái nghiêm khắc muốn chém bọn chúng, điều này khiến Tưởng Khâm không thể bỏ mặc. Tưởng Khâm cũng biết, bất luận đầu hàng địch hay chạy trốn đều là tội lớn trong quân đội. Về luật thì phải chém, nhưng những người này đều là lão binh đi theo y nhiều năm, làm sao y có thể thấy chết không cứu.

Tưởng Khâm đành phải hạ mình, lên tiếng xin xỏ với Chu Thái:

- Ấu Bình có thể nể mặt ta được không, hãy giao mấy tên lính này cho ta xử lý?

- Giao cho Tưởng tướng quân không phải là không được. Nhưng tôi muốn biết, tướng quân định xử trí bọn chúng thế nào?

- Ta đây tự sẽ trừng phạt nặng hơn!

Tưởng Khâm nói rất hàm súc, lời nói cũng rất linh hoạt. Xử trảm là một cách trừng phạt nặng; đánh nặng rồi nhốt lại cũng là trừng phạt nặng, đây là thuật ngữ nhất quán trong chốn quan trường. Về lý thì Chu Thái sẽ cười ha hả, khen ngợi Tưởng Khâm vài lời, không tính toán chuyện riêng, vv.. Sau đó giao phạm nhân cho Tưởng Khâm, như vậy vừa có tình người và chuyện này cũng coi như chấm dứt.

Nếu như trước đây thì Chu Thái có lẽ sẽ làm như vậy, không đắc tội với Tưởng Khâm. Nhưng giờ đây, thế cục nguy cấp, nhất định phải nghiêm trị binh sĩ, nếu không có thể dẫn đến việc binh lính chạy trốn, lúc đó khó mà giải quyết được. Vì vậy, Chu Thái quyết định giết một người răn trăm người, dùng đầu của mấy chục binh sĩ này để răn đe ba quân.

Chỉ có điều, những binh lính này đều là thuộc hạ của Tưởng Khâm, Chu Thái cũng cần phải có sự đồng ý của Tưởng Khâm, tốt nhất là để tự mình Tưởng Khâm ra tay, vì vậy hắn mới phái người mời Tưởng Khâm đến.

Sắc mặt Chu Thái lập tức tối sầm lại, lạnh lùng hỏi:

- Không biết Tưởng tướng quân định xử trí bọn chúng thế nào?

Mở miệng ra là “Tưởng tướng quân” khiến Tưởng Khâm cảm thấy không được tự nhiên cho lắm. Y nhịn nỗi bực dọc trong lòng, đáp:

- Ta đem bọn chúng về doanh trại và tất nhiên sẽ xử lý theo quy định của quân đội!

- Tốt lắm!

Chu Thái chỉ vào mười mấy người đó, nói:

- Tại sao phải mang về doanh trại, cứ xử trảm ở đây đi, sau đó đem đầu của chúng đến các nơi tuần tra, răn đe các binh lính!

Tưởng Khâm giận dữ, hung hăng trừng mắt hỏi Chu Thái:

- Sao Chu tướng quân cứ làm khổ lẫn nhau vậy?

- Không phải là ta không nể mặt Tưởng tướng quân, mà bây giờ là thời kỳ quan trọng, kỷ luật quân đội phải được thắt chặt, nếu không sẽ dẫn đến việc binh lính chạy trốn. Thành Mạt Lăng coi như hết rồi, nhân nhượng sẽ không quản được binh, xin Tưởng tướng quân lấy đại cục làm trọng.

- Ngươi... !

Trong lòng Tưởng Khâm vô cùng tức giận, cao giọng quát:

- Ai cũng biết đại thế Giang Đông đã mất, sụp đổ chỉ tính theo thời gian nữa thôi. Lúc này thương cảm đến tính mạng của binh sĩ, cho họ được đoàn tụ với người nhà, không cần phải làm những vật hy sinh nữa. Sao Chu tướng quân lại có tâm độc như vậy?

Tưởng Khâm giận dữ mà nói lỡ lời khiến cho Chu Thái nổi giận. Hắn rút kiếm ra, lớn tiếng quát:

- Tưởng Khâm! Nhà ngươi còn dám nói xằng bậy làm dao động lòng quân thì ta nhất định sẽ lấy đầu của ngươi đó!

Đề xuất Voz: Những chuyện kinh dị ở Phú yên !
Quay lại truyện Binh Lâm Thiên Hạ
BÌNH LUẬN