Chương 906: Sơ chiến Hung Nô

Chương 906: Sơ chiến Hung Nô

Gã thám báo tiến vào quan thành, thi lễ bẩm báo:

- Khởi bẩm Điện Hạ, phát hiện chủ lực của quân Hung Nô ngoài sáu mươi dặm, khoảng sáu bảy vạn kỵ binh, nhưng bọn họ không nam hạ, mà đóng đại doanh.

Tin tức này có chút nào ngoài dự liệu của Lưu Cảnh, hắn không ngờ kỵ binh Hung Nô sẽ đến nhanh như thế, vừa đoạt được Tiêu Quan, quân Hung Nô liền xuất hiện. Lúc này, Lưu Cảnh chợt nhớ đến một chuyện, vội vàng hỏi tả hữu:

- Kỵ binh của Mã Đại đã trở về chưa?

- Hồi bẩm Điện Hạ, Tướng quân dẫn quân truy kích người Ô Hoàn, vẫn chưa trở về.

Lưu Cảnh lập tức lấy ra một cây lệnh tiễn, đưa cho Quân hầu thám báo:

- Đi tìm Mã Đại tướng quân, lệnh cho y lập tức rút quân về, không được tác chiến với quân địch.

- Tuân lệnh!

Gã Quân hầu thám báo tiếp nhận lệnh tiễn, nhanh chóng chạy xuống dưới thành. Lưu Cảnh đứng nhìn một đại thám báo phi về hướng bắc, trong lòng quả thật có chút lo lắng. Hắn trầm ngâm một chút, rồi lại nói với thị vệ bên cạnh:

- Mau đi mời Giả quân sư đến đây.

Không bao lâu, Giả Hủ vội vã chạy đến, khom người nói:

- Tham kiến Điện Hạ!

- Quân sư hãy miễn lễ.

Lưu Cảnh liền nói cho Giả Hủ biết về tình báo phát hiện chủ lực của quân Hung Nô. Giả Hủ nhíu mày, y cũng không ngờ rằng kỵ binh Hung Nô lại đến nhanh như thế này. Y nghĩ tới nghĩ lui rồi nói:

- Tên Lưu Khứ Ti này thần đã từng có qua lại hồi hai mươi năm trước. Tuy người này là người Hồ, nhưng sống lâu ngày ở Trung Nguyên, hiểu rất rõ tình hình của Trung Nguyên, lại còn vô cùng giảo hoạt, phàm việc gì cũng lấy chữ lợi làm đầu. Năm đó sau khi y hộ giá thụ phong, Tào Tháo lại lệnh cho y truy kích tàn quân của Lý Thôi, y lại lấy lý do binh sỹ mệt mỏi mà cự tuyệt. Bởi vì quân nhu của Lý Thôi đã bị Tào Tháo đoạt mất, truy kích tàn quân của Lý Thôi cũng không kiếm chác được gì. Y trú binh ngoài sáu mươi dặm, chỉ e là đang mưu đồ lợi ích lớn nhất cho bản thân.

Lưu Cảnh trầm tư một hồi, lại nói:

- Ý của Quân sư là Lưu Khứ Ti thật sự chỉ muốn ngồi làm ngư ông đắc lợi ư?

Giả Hủ chậm rãi gật đầu:

- Nhất định là như thế, y muốn chờ chúng ta và người Ô Hoàn lưỡng bại câu thương rồi mới xuất binh. Lúc đó chẳng những là muốn đối phó chúng ta, mà còn thâu tóm cả người Ô Hoàn. Nhưng y lại sợ người Ô Hoàn đầu hàng chúng ta, cho nên mới đứng ngoài sáu mươi dặm đốc chiến. Một khi người Ô Hoàn có ý đầu hàng, y sẽ lập tức tiến công Ô Hoàn. Nếu thần đoán không sai, thì y nhất định sẽ phái tâm phúc đi giám sát người Ô Hoàn.

Lưu Cảnh nhìn chăm chú về phía bắc, có chút lo lắng, nói:

- Ta rất lo cho Mã Đại và kỵ binh của y, bọn họ truy kích tàn quân của Xích Ninh vẫn chưa về. Nếu như bọn họ bị binh sỹ tuần tra của Hung Nô bắt gặp, người Hung Nô sẽ không để bọn họ trở về một cách đơn giản như vậy. Ta nhất định phải tiếp ứng cho Mã Đại.

- Có thể đi tiếp ứng cho Mã Đại, nhưng Điện Hạ không thể mạo hiểm, có thể cho Bàng Đức chỉ huy kỵ binh đi tiếp ứng.

Lưu Cảnh gật gật đầu, lập tức quay đầu ra lệnh:

- Mau đi tìm Bàng Đức đến gặp ta!

Mã Đại dẫn năm ngàn kỵ binh phụ trách chặn đường người Ô Hoàn rút về phía bắc. Mặc dù y đã bày ra ba tuyến cản đường, nhưng vẫn có hơn một ngàn kỵ binh phá vỡ được ba tuyến này của y, chạy trốn về phía Thượng Quận, bao gồm cả Chủ tướng Xích Ninh của người Ô Hoàn. Trong lòng Mã Đại không cam, liền dẫn quân truy kích một mạch về hướng đông bắc, đuổi mãi đến hơn trăm dặm, trảm địch hơn bốn trăm người. Lúc này trời đã tối, quân Hán không quen đường sá, cuối cùng Mã Đại mới hạ lệnh ngừng truy kích.

Màn đêm đã lặng lẽ buông xuống, năm ngàn kỵ binh nghỉ ngơi qua đêm bên cạnh một con sông nhỏ. Bọn họ từ Ngõa Đình Quan qua đây, tổng cộng đã truy kích một đêm một ngày, người ngựa sớm đã mỏi mệt. Các binh sỹ trùm kín chăn ngủ thật say, chiến mã thì đứng bên cạnh chủ nhân lẳng lặng gặm cỏ trên đất, hoặc cũng cùng chủ nhân đi vào giấc ngủ.

Mã Đại thì lại không sao ngủ được, y ngồi xếp bằng bên bờ sông, mượn ánh trăng sáng để xem một tấm bản đồ. Bọn họ truy kích quân địch quá xa, đã khó tìm ra đường. Vùng này núi non trùng điệp, lối rẽ rất nhiều, địa hình hết sức phức tạp. Mà y không quen thuộc đối với địa hình vùng này cho lắm, khiến trong lòng y quả thật có chút lo lắng. Lương khô bọn họ mang theo chỉ đủ duy trì một ngày, một khi lạc đường, có thể mấy ngày cũng không trở về được Tiêu Quan. Quan đội của y ắt sẽ gặp phải sự uy hiếp về lương thực.

Đương nhiên, khi tình thế quẫn bách, bọn họ có thể giết chiến mã được vượt cửa ải này. Nhưng làm kỵ binh, chiến mã chính là huynh đệ của bọn họ, không người này nguyện ý giết huynh đệ của mình để đỡ cơn đói, trừ phi bọn họ tìm được tiếp viện kịp thời. Mã Đại bất đắc dĩ thở dài một tiếng. Bản đồ trên tay y quá đơn giản, chỉ vẽ bừa một lộ tuyến quanh co khúc khuỷu thông đến Tiêu Quan. Nhưng trên thực tế, bọn họ gặp phải vô số con đường, hầu như đều đi về hướng nam. Rốt cuộc là con đường này mới thông đến Tiêu Quan?

Mã Đại xếp tấm bản đồ, rồi lại nhìn bốn phía một lượt. Dường như bọn họ đã dấn thân vào dưới một bầu trời rộng lớn. Một vầng trăng sáng nhô lên trên bầu trời màu lam, trong lòng Mã Đại thầm nghĩ: "Bọn họ nhất định phải tìm được một người dẫn đường mới được.

Sáng sớm hôm sau, khi trời vẫn chưa sáng hẳn, mấy gã thám báo đã dẫn đến một tên mục dân người Ô Hoàn và hơn trăm con dê.

- Tướng quân, chúng thuộc hạ phát hiện ra người này ở bờ sông phía trước.

Mã Đại mừng rỡ, hơn trăm con dê có thể miễn cưỡng bổ sung làm thức ăn cho các binh sỹ. Quan trọng hơn là, đã có một người dẫn đường. Y lập tức ra lệnh cho thám báo dẫn tên mục dân kia đến. Tên mục dân sợ đến run lẩy bẩy, quỳ trên đất dập đầu khẩn cầu tha mạng. Mã Đại ôn hòa nói với gã:

- Chúng ta sẽ không tổn thương người, người chỉ cần nói cho chúng ta biết, theo con đường nào có thể đến huyện Cao Bình?

Tên mục dân nơm nớp lo sợ chỉ về một khe núi bên cạnh con sông nhỏ:

- Theo con đường bên đó đi thẳng, thì có thể đến huyện Cao Bình, không có đường rẽ.

Mã Đại mừng rỡ, căn dặn tả hữu:

- Đưa cho hắn một con ngựa, thả hắn đi.

Tên mục dân Ô Hoàn ra khỏi nơi quân đội tá túc, gã cưỡi ngựa chạy lên một khe núi. Trơ mắt nhìn binh sỹ quân Hán đang lột da làm thịt dê, gã hận đến đôi mắt đều sắp phóng ra lửa, liền xoay ngựa, chạy về hướng tây.

Đúng ngọ, Mã Đại đã dẫn đại quân đến một huyện thành bỏ hoang. Nơi này là huyện Cố Nguyên, bị bỏ hoang mấy năm. Huyện thành đã nhiều lần bị người Hung Nô cướp bóc, đã sớm bị đốt cháy thành bãi đất trống, chỉ còn lại một vòng tường thành hiu quạnh đứng sừng sững dưới chân Lục Bàn Sơn. Tìm được tòa thành Cố Nguyên cũ kỹ này, Mã Đại liền biết rằng bọn họ chỉ còn cách Tiêu Quan năm mươi dặm. Có tòa huyện thành này để tham chiếu, không cần nhìn bản đồ, y cũng biết đi đi về đâu.

Nghỉ ngơi nửa canh giờ, Mã Đại xoay người lên ngựa, ra lệnh cho thủ hạ:

- Gia tăng tốc độ, trở về Tiêu Quan ăn tối!

Các binh sỹ đều nhất loạt lên ngựa, thúc ngựa nhanh chóng chạy về phía nam, bụi đất tung bay, che lấp cả bầu trời. Nhưng bọn họ chỉ vừa chạy ra hơn mười dặm, thì trên một ngọn đồi ở phía trước mấy dặm, bỗng xuất hiện vô số chấm đen nhỏ. Ngay sau đó, trên đồi núi hai bên cũng xuất hiện vô số những điểm đen, đó là kỵ binh. Mã Đại lập tức nhận ra, y khoát tay hô to:

- Ngừng tiến về phía trước!

Năm ngàn kỵ binh quân Hán đều ghìm chặt chiến mã, bất an kéo lấy dây cương. Người sáng suốt đều sẽ nhìn ra, đã đối diện có ít nhất hơn một vạn kỵ binh. Mã Đại nhận ra đại kỳ đầu sói của đối phương, y lập tức ra lệnh:

- Là quân địch, chuẩn bị chiến đấu!

Đội kỵ binh mà Mã Đại gặp phải là cánh trái của người Hung Nô, là một đội kỵ binh của người tộc Yết, khoảng ba ngàn người. Người Yết là biệt chi của người Hung Nô, cũng là quân nô lệ của người Hung Nô. Diện mạo của bọn họ hơi khác với người Hung Nô, rõ ràng là có đặc điểm của người da trắng, mũi cao mắt sâu, phần lớn đều để râu.

Người Yết chịu sự áp bức của người Hung Nô một cách sâu sắc, nhưng cũng vì vậy đã tạo nên tính cách dân tộc tàn bạo, thích nhất là cướp bóc gian dâm. Bọn họ được Lưu Khứ Ti chỉ định làm cánh trái, hoạt động khá tự do, liền nhân cơ hội tìm kiếm thôn xóm người Hán hoặc người Ô Hoàn, giết chóc cướp bóc.

Thủ lĩnh của đội kỵ binh người Yết này tên là Thạch Nhu, tuổi tầm ba mươi. Y là con trai của Đại tù trưởng bộ lạc người Yết, mặt đầy sẹo, bộ dáng cực kỳ hung hãn, sử dụng một thanh đại đao năm mươi cân, giết người vô số. Một canh giờ trước, Thạch Nhu đã được một gã mục dân Ô Hoàn chạy đến báo cáo tin tức, một đội kỵ binh quân Hán đang từ phía đông chạy qua đây, chỉ có mấy ngàn người. Thạch Nhu quyết định thật nhanh, dẫn một vạn ba ngàn quân bản bộ đuổi đến chặn đường quân Hán.

Thạch Nhu cưỡi ngựa đứng trên đồi, lạnh lùng nhìn về phía kỵ binh quân Hán ở mấy dặm đằng xa, nhân số không đến một nửa quân mình. Thạch Nhu khinh miệt, cười lạnh một tiếng, nói với mười mấy viên Đại tướng bên cạnh:

- Rất kỳ lạ, người Trung Nguyên sao lại cũng có kỵ binh, chẳng lẽ trồng ra kỵ binh sao?

Mười mấy viên đại tướng cười phá lên. Thạch Nhu gỡ cây tù và to lớn trên chiến mã xuống, ngửa đầu thổi mạnh. Ngay sau tiếng "U" mười cây tù và cũng cùng nhau thổi. Tiếng tù và vang vọng trên vùng đất. Kỵ binh người Yết đội nhiên phát động, một vạn ba ngàn ky bịnh từ ba hướng xuất kích, vạn mã phi nhanh, mặt đất đang rung chuyển, bụi đất che lấp bầu trời. Kỵ binh như cuồng phong bạo vũ xông về phía kỵ binh quân Hán.

Mã Đại thống soái kỵ binh Tây Lương nhiều năm, cũng có kinh nghiệm phong phú về kỵ binh. Nếu như là tướng lĩnh kỵ binh bình thường, dưới tình huống quân địch chủ động xuất kích, tám chín phần sẽ dùng cung nỏ để chặn, đây là chiến thuật nhất quán của quân Hán. Nhưng Mã Đại lại có thể căn cứ theo tình hình thực tế để đưa ra chiến thuật.

Mã Đại không hạ lệnh dùng nỏ tiễn bắn. Quân địch phân làm ba đường đánh tới, diện xuất kích quá lớn, mà binh lực của bọn họ bị vây trong hoàn cảnh xấu. Nếu dùng cung nỏ, tuy rằng có thể gây sát thương lên một bộ phận quân địch, nhưng quân Hán sẽ gặp phải sự xung kích mãnh liệt của kỵ binh. Đối với quân đội không có chiến xa làm chướng ngại vật mà nói, bị kỵ binh cường đại xung kích là một việc cực kỳ đáng sợ.

Dưới tình hình như vậy, chỉ có đồng thời xung kích đối phương, lấy cứng đối cứng mới là chiến thuật tốt nhất. Mã Đại nâng đao hô to:

- Các kỵ binh quân Hán, đây là thời khắc vinh quang của các nguoi, hãy khiến cho quân địch run rẩy dưới sự chiến đấu và vó ngựa của chúng ta đi!

Mã Đại hô khản cả giọng:

- Giết!

Năm ngàn quân Hán nâng mâu hét lên:

- Giết!

Tiếng hét xông thẳng lên trời. Kỵ binh quân Hán ầm ầm tiến lên, lấy một khí thế không thể chống đỡ bắt đầu xung kích. Hai đội kỵ binh càng lúc càng gần nhau, chỉ còn một chút nữa là chạm mặt. Chiến mã như gió cuốn giết về phía trước, xông lên mạnh liệt, dữ dội như gió lốc. Thiết mâu, chiến đao đâm vào mũ sắt, phát ra những âm thanh chói tai. Tiếng khóc, tiếng kêu thảm thiết phát ra.

Kỵ binh quân Hán tựa như một thanh thiết kiếm, giết ra một đường máu trong đám quân địch đông nườm nượp. Kỵ binh quân Hán dũng mạnh khó sánh, trên con đường máu đó, giẫm đạp tất cả, áp đảo tất cả, đánh tan tác tất cả, chẻ đôi kỵ binh người Yết, xông thẳng vào đại kỳ đầu sói ở trung tâm quân địch. Bắt giặc trước tiên phải bắt vua, giết được Chủ tướng quân địch, hoặc đánh tan trung quân của quân địch, chính là thủ đoạn tốt nhất để lấy ít đánh nhiều.

Thạch Nhu lại không ở dưới đại kỳ đầu sói, y sớm đã đoán được quân Hán sẽ tấn công đại kỳ, giết chết mình mà thu hoạch thắng lợi. Lúc bắt đầu xung phong y đã thoái lui ra phía sau đội ngũ. Lúc này, Thạch Nhu híp mắt nhìn quân Hán xung phong, trong mắt không giấu được sự dắc ý. Quân Hán lao thẳng vào trung quân, là đã nằm trong lòng bàn tay của y rồi.

Thạch Nhu lại giơ tù và lên thổi mạnh, "U! U! U!", đây là mệnh lệnh tiến công của hai cánh quân hai bên. Hai cánh kỵ binh trái phải giống như hai cái đuôi của bọ cạp, hung hãn đánh mạnh mẽ vào hai bên quân Hán.

Đề xuất Voz: Ước Thành Thằng Khốn Nạn!
Quay lại truyện Binh Lâm Thiên Hạ
BÌNH LUẬN