Chương 630: 112 che giấu

Cảm nhận được Milika ôm chầm lấy mình, Fisher hơi khựng lại, rồi nhẹ nhàng đặt tay lên vai cô, đẩy ra một khoảng cách lịch sự. Đến lúc này, anh mới có dịp quan sát kỹ người học trò cũ sau bao ngày xa cách.

“Đã lâu không gặp, Milika.”

“Thầy mới là người biệt tăm bấy lâu đó, thầy Fisher. Kể từ khi thầy và Molly rời khỏi Saintnely, dù lệnh truy nã của Nữ hoàng Elizabeth đã bị bãi bỏ nhưng em vẫn luôn lo lắng cho mọi người. Nhất là Isabel, em nghe nói chị ấy bị hải tặc bắt cóc, không biết giờ ra sao rồi...”

“Hiện giờ con bé không sao đâu. Chính thầy đã giao Isabel cho Nữ vương Băng giá chăm sóc, cô ấy có quan hệ rất tốt với thầy.”

“Ra là vậy...”

Thấy Milika không còn ý định lao vào ôm mình nữa, Fisher mới nhẹ nhàng buông vai cô ra. Dù sao trước đó anh đã hứa với Raphael là sẽ không dây dưa với những phụ nữ mới, huống hồ bấy lâu nay anh vẫn luôn coi Milika là học trò, tự nhiên không thể làm càn như lời Emhart nói. Anh lên tiếng:

“Lần này thầy quay về...”

“Lần này thầy Fisher quay về chắc chắn là để tham dự tang lễ của Đại sư Haytham đúng không?”

Lời anh chưa dứt, Milika đã nhanh nhảu đoán trước khiến anh chỉ biết gật đầu thừa nhận:

“Ừm, vì đi xa đã lâu nên ngay cả tin tức về thầy mình, thầy cũng phải thông qua bạn bè hải ngoại mới biết được. Thầy cũng vừa mới tới Saintnely nên không nắm rõ tình hình những năm qua. Đại sư Haytham rốt cuộc đã xảy ra chuyện gì?”

“À... Thật ra không lâu sau khi thầy Fisher rời khỏi Saintnely, Đại sư Haytham đã tuyên bố nghỉ hưu. Ông ấy từ chối lời mời ở lại của Nữ hoàng Elizabeth lẫn các thành viên Đảng Tân Griffin, rồi quay về quê nhà ở thành phố Kitel để dưỡng già. Kể từ đó, Đại sư không còn xuất hiện trước công chúng nữa, cho đến khi ông ấy đột ngột qua đời lần này.”

Fisher nhìn Milika, im lặng một lát rồi vẫn hỏi lại:

“Nói cách khác, tin Đại sư Haytham qua đời là thật sao?”

“Ơ, tất nhiên là thật rồi ạ.” Milika nghe Fisher nghi vấn như vậy thì ban đầu chưa kịp phản ứng, nhưng vài giây sau cô liền há hốc mồm: “Thầy đang lo lắng về Nữ hoàng Elizabeth sao?”

“...”

Fisher không trả lời, nhưng sự im lặng đó giống như một lời ngầm thừa nhận khiến Milika càng thêm chắc chắn. Rõ ràng trong phòng chỉ có hai người, nhưng cô vẫn thận trọng ngoái nhìn xung quanh như sợ có ai đó nghe lén.

“Chuyện đó... Thầy Fisher, việc Đại sư Haytham tạ thế chắc chắn là thật, vì một tuần trước cha em đã cử nhân viên Giáo hội đến thành phố Kitel rồi. Không chỉ xác nhận ông ấy đã mất mà họ còn tiếp quản việc chủ trì tang lễ. Nhưng thầy Fisher à, nếu thầy muốn đi dự tang lễ thì thực sự phải cẩn thận với Nữ hoàng Elizabeth. Kể từ khi lên ngôi, em luôn cảm thấy bà ấy ngày càng đáng sợ. Đặc biệt là một năm trở lại đây, ngay cả cha em cũng không dám đi gặp bà ấy nữa.”

“Đáng sợ?”

“Vâng, tóm lại là em cũng không diễn tả được. Mấy năm trước cha còn dẫn em đi dự tiệc sinh nhật của bà ấy, nhưng mỗi lần gặp, em đều có cảm giác rợn tóc gáy, cứ như bà ấy đang nhìn chằm chằm vào em mọi lúc mọi nơi. Mỗi khi có ý nghĩ đó, cơ thể em lại cứng đờ như hóa đá, nên sau này em không dám đi nữa. Mặc dù dân chúng rất kính yêu bà ấy, nhưng cả cha em, Hiệu trưởng Damian lẫn các đại thần đều ngày càng sợ hãi bà ấy hơn.”

Milika do dự một chút, lén liếc nhìn Fisher rồi cuối cùng vẫn thì thầm:

“Họ đang bí mật đồn đại rằng... Nữ hoàng Elizabeth vì tàn sát quá nhiều người thân nên đã bị nguyền rủa, không còn là con người nữa.”

“...”

Từ miệng Milika, Fisher có thể thấy được cái nhìn của tầng lớp thượng lưu Saintnely đối với Elizabeth hiện tại, dường như khác biệt một trời một vực với sự sùng bái của dân chúng Nali và tầng lớp trung lưu.

Tất nhiên, có lẽ nỗi sợ hãi của những người đó bắt nguồn từ con mắt giả mà Elizabeth đang đeo.

Trải qua những sự kiện từ vạn năm trước, Fisher biết rõ bộ mắt giả đó dường như có liên quan đến Thiên sứ trưởng Pandora, người đã biến mất trong Lý Tưởng Quốc.

Vậy vấn đề là, Pandora và Ramiel đã cùng chết dưới lòng đất của Lý Tưởng Quốc, vậy thánh vật đó rốt cuộc được rèn đúc ra sao? Huống hồ đó dường như còn là một thánh vật dạng giọt lệ (Emhart từng nói có thể giao tiếp với nó). Chẳng lẽ sau đó các thiên sứ đã tìm thấy giọt lệ còn lại biến mất ở Lý Tưởng Quốc để rèn nên nó?

Lúc đó anh đã quên hỏi Lehel về điểm này, dù cô ấy không biết rèn thánh vật nhưng chắc chắn phải am tường lịch sử thời kỳ đó.

“Thầy hiểu rồi. Đúng rồi, còn một việc nữa...”

Sau đó, Fisher không quên đưa tấm bản đồ cho Milika xem. Và không phụ sự kỳ vọng của anh, là một đứa trẻ lớn lên dưới sự dạy dỗ của Đại chủ giáo, cha cô đã không ít lần đưa cô ra vào những nơi trong Nhà thờ lớn mà người bình thường không bao giờ có cơ hội đặt chân tới. Vì vậy, cô nhanh chóng nhận ra địa điểm được vẽ trên bản đồ.

Vị trí mà người quản lý Á nhân để lại cho Fisher nằm ngay dưới tầng hầm của Nhà thờ lớn, nơi yên nghỉ của linh hồn các tín đồ thành kính.

Nghe được đáp án này, Fisher lộ vẻ hơi bất ngờ. Điều này có nghĩa là thứ mà bà ấy để lại nằm ngay bên dưới nơi lưu giữ tro cốt của Carla. Nghĩa trang giáo đường chia làm hai phần: trên mặt đất và dưới lòng đất. Trên mặt đất chủ yếu dành cho người nhà và bạn bè đến tưởng niệm, trước đây khi Fisher đến thăm Carla đều là ở khu vực này.

Nơi đó bị hạn chế ra vào rất nghiêm ngặt, không chỉ yêu cầu phải là người nhà của người quá cố mà còn phải đặt lịch hẹn trước. Tất nhiên, những người quyền quý như Elizabeth thì không cần, lần đầu tiên Fisher gặp Elizabeth cũng chính là ở đó.

Còn dưới lòng đất là nơi yên nghỉ thực sự của những tín đồ ngoan đạo nhất trong Mẫu Thần Giáo, nơi đó cấm tuyệt đối người ngoài vào, và đó chính là mục đích thực sự của Fisher lần này.

“Được rồi, giờ thầy sẽ qua đó xem thử. Còn về sau này, em...”

Có được đáp án, Fisher nhanh chóng đứng dậy. Anh gửi lời cảm ơn đến Milika, sau khi hàn huyên vài câu xác nhận tình trạng hiện tại của cô và có được thông tin cần thiết, anh chuẩn bị rời đi. Milika mím môi, nhìn anh rồi đột nhiên ngắt lời:

“Đợi đã, thầy Fisher, sau đây em và cha cũng sẽ đi dự tang lễ của Đại sư Haytham. Em... em có thể đưa thầy vào, biết đâu còn có thể lách qua được Nữ hoàng Elizabeth.”

“Như vậy cha em sẽ đau đầu lắm đấy.”

Nếu để cha của cô nhóc này biết cô lại muốn xen vào chuyện giữa anh và Elizabeth, ông ấy chắc sẽ quên sạch giáo lý của Mẫu Thần mà lôi Milika ra dạy dỗ một trận nên thân mất.

Milika nghe vậy thì thè lưỡi, không phản bác nữa nhưng vẫn có chút không cam lòng nói:

“Đây... đây là em tự nguyện giúp thầy, không liên quan gì đến cha em hết.”

“Đúng vậy, nhưng cha em lại có liên quan đến em. Ông ấy rất yêu em, đừng làm ông ấy thất vọng.”

“Ông ấy mới không thương em đâu, ông ấy chỉ yêu cái ghế Đại chủ giáo của mình thôi.”

Fisher không phủ nhận cũng không đồng tình, chỉ khẽ cười:

“Nếu ông ấy không thương em thì đã chẳng nhờ thầy đến dạy kèm toán cho em rồi. Dù sao người tinh tường đều thấy trình độ toán học của em là vô phương cứu chữa, nhưng ít nhất lúc đó ông ấy vẫn không bỏ cuộc, sẵn sàng chi bộn tiền để thử một phen. Mặc dù cuối cùng vẫn thất bại.”

“Thầy Fisher!! Thầy... Thầy còn nói thế nữa là em sẽ tố cáo thầy lẻn vào khuê phòng Thánh nữ đấy!! Em còn nói chuyện này cho Nữ hoàng Elizabeth biết nữa!”

Milika đỏ bừng mặt, tức tối nắm chặt tay đe dọa. Bị bóc mẽ chuyện cũ khiến cô giận không chỗ phát tiết, nhưng Fisher lúc này đã đi tới cửa, lại khẽ cười nói:

“Vậy thì người xui xẻo nhất chắc chắn là em đầu tiên.”

“Hừ, thầy không biết em có thể thêu dệt giỏi đến mức nào đâu.”

“Không, là em không hiểu rõ Elizabeth thôi.”

Fisher định đẩy cửa rời đi, nhưng phía sau, giọng nói chần chừ của Milika lại vang lên:

“... Còn nữa, thầy Fisher, những năm qua thầy có biết tình hình của Molly không? Cậu ấy đã quay về biển cả rồi sao? Cậu ấy có... có bị ảnh hưởng gì không?”

Fisher hơi sững sờ, rồi quay đầu lại nhìn Milika đang lộ vẻ lo lắng trên giường. Rõ ràng cô vẫn chưa quên chuyện của năm năm trước, khi hai người bạn thân nhất của cô đột ngột rời xa cuộc đời mình chỉ trong một đêm.

Nhưng có lẽ lúc này, theo sự trở lại của Fisher, mọi thứ nên trở nên nhẹ nhàng hơn một chút.

“Con bé rất tốt, thầy đảm bảo đấy.”

“Thật sao.”

Cuối cùng, Milika cũng không nhịn được mà mỉm cười, một nụ cười đầy nhẹ nhõm:

“Vậy thì tốt quá rồi.”

“Trời ạ, Fisher, anh biết không, lúc nãy tôi suýt chút nữa đã định kể cho cô bé loài người đó chuyện anh chăm sóc Molly đến tận trên giường rồi đấy. Tên cô bé là Milika nhỉ? Tôi thực sự rất tò mò không biết cô bé sẽ lộ ra biểu cảm gì khi biết chuyện đó.”

Fisher đã thay đổi diện mạo một lần nữa, lặng lẽ đi trên hành lang giáo đường. Anh không quá quen thuộc với cấu trúc phức tạp nơi đây, chỉ có thể dựa vào vài vật tham chiếu ít ỏi trong ký ức để cố gắng tiến về đích đến. Lúc này, Emhart vốn vẫn luôn “treo máy” trong ngực anh cuối cùng cũng thò đầu ra lầm bầm.

Fisher liếc nhìn nó, mặt không cảm xúc nói:

“Mặc dù đa số thời gian ngươi đều tố cáo Lehel, nhưng thật ra ta thấy ngươi cũng bị cô ấy lây nhiễm rồi đấy nhỉ? Cái bộ dạng chỉ sợ thiên hạ không loạn này của ngươi quả thực giống hệt cô ấy. Ngươi trở thành fan cuồng của cô ấy rồi sao?”

“Phi phi phi! Thật xúi quẩy! Tôi chỉ là thực sự cầu thị thôi có được không? Paimon là vì thú vui mà tạo ra trò vui, rất thích ảo tưởng và lừa dối, hai chuyện này sao giống nhau được? Anh đừng có ngậm máu phun người!”

“... Ha ha, thực sự cầu thị.” Fisher cười mỉa mai một tiếng rồi nói tiếp: “Lúc trước chẳng phải ngươi bảo ta định làm gì học trò sao, chẳng lẽ đến giờ ngươi vẫn chưa nhìn ra thái độ của ta đối với Milika à? Đó cũng là thực sự cầu thị của ngươi sao?”

“Không, tôi thấy anh không có cảm giác với cô bé chỉ đơn giản là vì cô bé không phải Á nhân thôi.”

“...”

Emhart mang theo ánh mắt cá chết, khẳng định chắc nịch. Fisher im lặng một lát, nhất thời không tìm được lời nào để phản bác, mãi vài giây sau mới đáp lại:

“... Vậy còn Elizabeth thì sao? Chẳng lẽ ta thích cô ấy là vì trên người cô ấy có huyết thống Á nhân nào đó à?”

“Làm sao anh có thể nghĩ rằng bản thân năm mười tám tuổi và anh bây giờ là cùng một người được? Anh lúc đó nghe kể thì còn thuần khiết lắm, chứ bây giờ á... chậc chậc chậc, tôi thật khó nói. Ơ, anh định làm gì? Nói không lại là định... Ái u!!”

Fisher nhẹ nhàng cho nó một cú “cảnh cáo” để nó biết thế nào là lễ độ, khiến nó vừa tức vừa hận chui tọt vào trong áo vest để trốn tránh ma trảo của anh.

Fisher cũng chẳng buồn trêu chọc nó nữa, bởi vì lúc này, sau khi lách qua rất nhiều nhân viên canh gác ở vòng ngoài, anh đã đi tới trước sảnh tưởng niệm của nghĩa trang giáo đường.

Nơi này kể từ năm mười tám tuổi anh đã thường xuyên ra vào, chỉ có điều khác với con đường dẫn đến ký túc xá lớp Thánh nữ, trước đây anh luôn đi vào từ một cánh cửa lớn khác. Có lẽ Thư tước sĩ nói không sai, anh thật sự đã không còn là Fisher của tuổi mười tám nữa, ít nhất là bây giờ anh sẽ không vào ký túc xá Thánh nữ một cách tự nhiên như thế.

Nhìn nơi chốn xa cách đã lâu trước mắt, anh vẫn không kìm được mà hít sâu một hơi, vẻ mặt trở nên nghiêm nghị.

Lúc này đang là giờ nghỉ trưa nên gần sảnh tưởng niệm không có người canh gác. Anh trực tiếp đẩy cánh cửa lớn ra, để lộ những mảng tường lớn khắc tên những người đã khuất và bức tượng Mẫu Thần ở chính giữa.

Bước chân anh vô thức chậm lại cho đến khi cánh cửa lớn phía sau từ từ đóng lại. Emhart thấy xung quanh không có ai cũng chui ra khỏi ngực, đậu trên vai phải của anh, tò mò quan sát bốn phía.

Đi đến trước một bức tường, ngay sát mép tường đó, trên một hộp đá nhỏ có khắc toàn bộ những gì thuộc về năm mười tám tuổi của anh:

“Cảm ơn người đã cho kẻ cô đơn như con một mái nhà. Dù người đã ra đi, dù con lại một lần nữa lẻ loi, người vẫn mãi là người nhà của con.”

“Để tưởng nhớ: Carla Benavides, một nữ tu vĩ đại và thành kính.”

“Fisher Benavides.”

Nơi đây chính là bia mộ của nữ tu Carla, nơi tưởng niệm giấc ngủ ngàn thu của bà.

“Đây là nơi Carla an nghỉ sao... Đợi đã, chẳng phải chúng ta đã rời đi năm năm rồi sao? Anh nhìn dưới hộp đá này đi, có rất nhiều tro bụi của những tờ sớ cầu nguyện bị đốt kìa. Chẳng lẽ ngoài anh ra còn có đứa trẻ mồ côi nào khác mà bà ấy từng nuôi dưỡng đến thăm bà ấy sao?”

Emhart quay đầu lại thắc mắc, Fisher cũng hơi ngạc nhiên nhíu mày. Anh lắc đầu nói:

“Mọi chuyện hậu sự của Carla đều do một tay thầy lo liệu. Những thủ tục rườm rà của Giáo hội thì những người khác ở trường Giáo hội chẳng buồn tham gia, họ thậm chí còn không biết Carla an nghỉ ở đâu. Nhưng phía bên kia chắc là có sổ ghi chép lời khấn của các linh mục.”

Nói đoạn, Fisher vẫn thấy không chắc chắn lắm nên đi tới chiếc bàn gỗ phía trước bia mộ, kiểm tra sổ ghi chép lời khấn của vị linh mục trực ban. Là một phần của thủ tục hẹn trước, những lời cầu nguyện mà người nhà mang tới để đốt đều phải được ghi lại.

Dò theo số thứ tự bia mộ của Carla, Fisher nhanh chóng lật xem cuốn sổ. Giây tiếp theo, anh há hốc mồm kinh ngạc, ngay cả Emhart trên vai cũng tròn mắt rồi lập tức quay sang nhìn anh.

Bởi vì trên dòng ghi chép đó, ghi rõ ràng một cái tên duy nhất: Elizabeth Gedelin.

Một tháng trước, đốt một bản lời khấn; hai tháng trước, đốt hai bản; bốn tháng trước, đốt một bản.

Cứ thế tiếp diễn, mặc dù cuốn sổ này chỉ ghi lại tình hình của năm nay, nhưng rõ ràng trong suốt năm năm Fisher rời khỏi Nali, bà ấy vẫn luôn thay thế Fisher – người không thể có mặt – để đốt những lời khấn cho Carla.

Thông thường, lời khấn là những điều người sống muốn nhắn nhủ với người đã khuất. Fisher không biết Elizabeth đã viết gì cho Carla, có lẽ chỉ là thông báo tình hình hiện tại của Fisher, hoặc cũng có thể đơn giản là thay mặt Fisher bày tỏ nỗi nhớ thương bà...

Nhưng ít nhất, những năm qua bà ấy vẫn luôn thay anh thực hiện trách nhiệm mà anh đã bỏ dở.

“... Được rồi, giờ tôi buộc phải thừa nhận rằng năm xưa anh thích Elizabeth có lẽ chẳng liên quan gì đến cái gọi là huyết thống Á nhân đâu.”

Emhart chớp mắt nhận xét. Fisher không kìm được mà ngẩng đầu nhìn về phía những dãy bàn trước tượng Mẫu Thần. Tại một vị trí phía sau những chiếc bàn đó, vào một buổi chiều nhiều năm về trước, chính là nơi lần đầu tiên họ gặp nhau.

“... Chúng ta đi thôi.”

“À, ừ, được thôi.”

Sau một hồi im lặng, Fisher mới chậm rãi khép cuốn sổ ghi chép lại. Anh lưu luyến thu hồi ánh mắt, quay người đi về phía khu vực dưới lòng đất không có người trông coi.

Hầm mộ dưới lòng đất nối với mặt đất bằng một lối đi được ngăn cách bởi một cánh cửa gỗ. Sau khi tìm kiếm một lúc, Fisher mới thấy cánh cửa gỗ đang khóa chặt đó.

Anh nhẹ nhàng đưa tay bẻ một cái, ổ khóa vỡ vụn rơi xuống đất, để lộ ra không gian hơi lạnh lẽo bên dưới.

Fisher túm lấy Emhart. Sau khi ném cho Fisher một cái nhìn hình mắt cá chết, nó im lặng bay lên, toàn thân tỏa ra ánh sáng vàng nhạt, giống như một chiếc đèn nhỏ lơ lửng soi sáng không gian phía dưới.

Bên dưới trông giống như một tầng hầm, trên mặt đất là vô số bình lọ xếp chồng lên nhau, tất cả đều bám đầy bụi bặm, rõ ràng là đã lâu không có ai dọn dẹp nơi này.

Xung quanh khô ráo và lạnh lẽo. Emhart quan sát một lượt nhưng không phát hiện ra bất kỳ nơi nào giống mật thất, ngoài tro cốt thì vẫn là tro cốt. Nó không nhịn được mà rùng mình, quay đầu hỏi:

“Không lẽ nhầm rồi chứ? Nơi này hẹp thế này thì có gì đâu. Vả lại cô bé loài người kia chẳng phải đã nói nơi này sau này mới xây sao? Có khi nào thứ mà tiền bối của anh để lại đã bị phá hủy rồi không?”

“Không thể nào, bà ấy không phải người bình thường.”

Người quản lý Á nhân đã sống lâu như vậy, còn có thể trò chuyện vui vẻ với Gelsemium, Thiên sứ và Tộc Elf, chỉ nhìn việc bà ấy sống lâu đến thế là đủ thấy bản lĩnh phi thường, làm sao có chuyện vật bà ấy để lại bị một nhóm thợ xây loài người phá hủy được.

Chỉ có thể là họ vẫn chưa tìm ra vị trí của mật thất.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, Sitri nói cần phải đi vào vị trí chỉ định, viết ra phù văn và đọc lên thì mới mở được mật thất. Nhưng nơi này toàn là tro cốt, trống rỗng thế này thì anh biết viết vào đâu?

Trong đầu Fisher lặp đi lặp lại ký ức về cách viết và cách đọc phù văn. Nghĩ mãi, anh chợt nhận ra rằng cái gọi là “phù văn” đó thực chất là một chữ cái trong ngôn ngữ mà người quản lý Á nhân sử dụng.

Nếu tìm mãi không thấy chỗ để viết phù văn, thì rất có thể đây là một mật ngữ, và khả năng cao đáp án của câu đố nằm ngay trong ý nghĩa của phù văn này.

Fisher tuy không biết ý nghĩa cụ thể của phù văn này là gì, nhưng đừng quên anh vừa mới nhận được một chức năng hoàn toàn mới của “Sổ Tay Bổ Toàn Á Nhân Nương”, đó là có thể dịch được ngôn ngữ của người quản lý Á nhân.

Nghĩ đến đây, anh vội vàng lấy cuốn sổ giấu trong ngực ra, mở nó ra đồng thời điều khiển đầu ngón tay rỉ ra vài giọt máu tươi để làm mực viết ký hiệu đó.

Chữ “Nữ” (女) và chữ “Mã” (马).

Anh nắn nót viết ký hiệu ngay ngắn đó lên trang sách, sau đó khẽ mở lời, đọc lên âm vận của ký hiệu này:

“Ma” (妈 - Mẹ)

“Ong ong ong...”

Giây tiếp theo, trên trang sách của cuốn sổ, chữ Hán được viết bằng máu của Fisher bắt đầu vặn vẹo. Điều này có nghĩa là nó thực sự đại diện cho một hàm nghĩa cụ thể nào đó và đang được cuốn sổ biên dịch.

Và cuối cùng, dòng chữ đỏ như máu dần biến thành tiếng Nali mà Fisher có thể nhận biết được, ý nghĩa là:

“Mẫu thân.”

Ngay khi nhìn thấy dòng chữ đó, đồng tử của Fisher hơi co lại. Anh nhíu mày, không thể tin nổi mà thốt lên bằng tiếng Nali:

“Mẫu thân?”

“Cạch cạch cạch!”

Ngay khi anh vừa dứt lời, ngay phía trước hầm mộ dưới lòng đất này, theo một sự vặn vẹo của sức mạnh kỳ quái, một cánh cửa vốn ẩn giấu trong một không gian không thể nhận biết dần dần lộ ra hình dáng cụ thể, xuất hiện trước mặt Fisher.

Đề xuất Voz: Hồi Ký : Nàng Heo Nái
BÌNH LUẬN