Chương 270: Khống chế tỷ lệ tử vong
Tình trạng thiếu hụt sức lao động ở thuộc địa quả thực vượt qua dự liệu của Franz. Ban đầu, hắn cho rằng với lượng di dân đông đảo sẽ đủ sức đáp ứng nhu cầu, nhưng thực tế không như vậy. Đa số di dân đều là những người dò tìm vàng, chỉ an phận làm thuê, làm việc cực nhọc mà khó nhọc. Ai cũng mong một đêm đổi đời, nhưng đó chỉ là mơ mộng, nếu không thì rất khó lòng an phận. Thậm chí khi đã quyết định an phận, cũng chẳng mấy ai tình nguyện đi khai thác mỏ.
Việc thiếu công nhân mỏ vàng là điều Franz không quá lo ngại, bởi khoáng sản là chuyện của các lão bản, và ông tin rằng họ có thể chủ động giải quyết khó khăn này. Thực tế tiến độ khai khoáng không quá nhanh, không có thời gian gấp gáp. Mục đích chính của di dân là phát triển canh tác, nhanh chóng hình thành nền kinh tế nông nghiệp tại chỗ để cung ứng nguyên liệu và thị trường cho sản xuất trong nước.
Thủ tướng Felix báo cáo: "Bệ hạ, dù di dân tăng tốc nhanh nhưng sức lao động của thuộc địa vẫn thiếu, ảnh hưởng tới kế hoạch khai phá châu Phi. Vùng Germany có dân số dư thừa, mỗi năm có lượng lớn dân phá sản muốn di cư nước ngoài, trong đó nhiều người lo ngại chi phí di cư. Rất nhiều người muốn sang Mỹ đều ký hợp đồng lao động trước để trả trước phí di chuyển, nhưng các hợp đồng này thường không công bằng, người giàu được lợi hơn người nghèo. Nếu chúng ta cam kết trả lại vé tàu cho hành trình ngược chiều, tin chắc sẽ có rất nhiều người muốn thử vận may ở châu Phi, giữ lại được không ít nhân lực."
Franz trầm ngâm rồi nói: "Gia tăng di dân dễ dàng, nhưng làm sao kiểm soát được tỷ lệ tử vong? Dù ta có quy định nghiêm ngặt điều lệ vệ sinh, nhưng thực thi từ địa phương lại rất kém. Hiện nay, trước khi đến châu Phi, trong vòng một năm, số di dân chết vì bệnh tật đã lên tới ba phần trăm, con số này thực sự quá cao, phải giảm xuống. Tay nghề thiếu hụt, tỉ lệ tử vong cao sẽ làm giảm mạnh sự hăng hái di dân."
Tỷ lệ tử vong cao ở thuộc địa phần lớn do các tình huống bất ngờ, trong đó bệnh tật là sát thủ hàng đầu. Ở châu Phi, các bệnh truyền nhiễm phổ biến như bệnh đường hô hấp, tiêu chảy, sốt rét rất nghiêm trọng. Do đó từ đầu Franz đã triệu tập chuyên gia bệnh viện, ban hành biện pháp phòng dịch. Bệnh đường hô hấp có thể xem nhẹ vì chủ yếu ảnh hưởng người già, còn di dân phần lớn là thanh niên khỏe mạnh. Tiêu chảy do ăn uống kém vệ sinh, nên đã quy định khẩu phần ăn đảm bảo dinh dưỡng, dù lúc đầu chỉ áp dụng cho quân đội và quan chức thực dân, còn người dân di cư bình thường thì chưa kiểm soát được.
Các bệnh truyền nhiễm mang theo bởi thổ dân địa phương, về lý thuyết chỉ cần cấm tiếp xúc thân mật giữa người di cư và bản xứ sẽ tránh được, đồng thời từ năm 1850 thuốc ký ninh quy mô được sản xuất, giảm tỷ lệ tử vong do sốt rét đáng kể. Những vật dụng phòng bệnh như màn, nhang muỗi, thuốc diệt côn trùng cũng đã được trang bị miễn phí cho di dân. Nếu di dân tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc vệ sinh, tỷ lệ tử vong do bệnh tật sẽ giảm thấp, thường chỉ dưới một phần trăm. Việc tăng thêm vài phần trăm tức là dân số lớn sẽ khiến con số tuyệt đối tăng rất nhiều. Nếu người di cư là người già yếu, tỷ lệ tử vong thậm chí còn tăng gấp bội.
Ngoài bệnh tật, các tranh chấp bạo lực giữa dân đào vàng và người bản xứ cũng là nguyên nhân tử vong đứng thứ hai. Theo thống kê ban đầu của chính quyền thực dân, tỷ lệ tử vong của di dân năm đầu lên đến 5,8%. Với mức cao như vậy, dân số tự nhiên của thuộc địa giảm sút, chỉ còn trông chờ vào dân di cư từ bên ngoài để duy trì. Vì thế việc khống chế tỷ lệ tử vong do bệnh tật trở thành nhiệm vụ cấp bách. Nếu không kiểm soát tốt, dân số thuộc địa sẽ âm tăng trưởng rất lâu, hoàn toàn phụ thuộc vào lượng di dân nhập cư.
Khả năng kiểm soát tỷ lệ tử vong do bệnh tật là có thể. Các cứ điểm di cư cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Mới mở của Buruk, tỷ lệ tử vong do bệnh tật được kiểm soát ở mức 1,4%, còn khu vực Ghana thì lên tới 3,9%. Nguyên nhân chính là lúc đầu di dân có sự kiểm soát sát sao của chính phủ, còn về sau thì di cư tự phát nên khó quản. Nếu không cải thiện tình hình, tỷ lệ tử vong cao sẽ dẫn tới khủng hoảng, làm khó thu hút di dân.
Thực dân đại thần Josip Jelacic từng giải thích: "Bệ hạ, hiện di dân đến từ nhiều nơi, thường lẩn trốn trong rừng sâu nên rất khó quản lý. Nếu giám sát quá nghiêm sẽ khiến một số nhóm dân tộc thực dân từ bỏ, di cư sang các đế quốc khác lập cứ điểm."
Franz nghiêm giọng đáp: "Bọn họ muốn đi thì để họ đi, nhưng trên đất này nhất định phải tuân thủ luật lệ của ta. Phổ biến điều lệ an toàn vệ sinh ở mọi cứ điểm di dân, người vi phạm phải nộp phạt, không sửa đổi thì phạt nặng đến phá sản. Dù chính quyền địa phương dùng cách gì, ta cũng phải giữ tỷ lệ tử vong do bệnh tật dưới kiểm soát chặt chẽ. Từ năm sau, tỷ lệ tử vong phải hạn chế trong 2%. Nếu bảy nước đàm phán đồng ý, năm tới sẽ cho phép tỷ lệ tử vong tối đa 4%, sau ba năm phải giảm xuống còn 3%. Ai không hoàn thành sẽ bị điều chuyển công tác, yêu cầu thay người. Ai cũng thiếu nhân lực nhưng không thể thiếu người quản lý!"
Franz không chỉ đơn thuần ngồi chờ, mà tiến hành song song nhiều biện pháp. Các nước Anh, Pháp cũng giới hạn tỷ lệ tử vong dưới 3%, chỉ ngoại lệ ở vịnh Guinea do mỏ vàng gây thiệt mạng cao. Franz đưa ra mục tiêu chung 3% cho các khu vực di dân hoạt động, không yêu cầu quá cao ở giai đoạn đầu mà chờ cải thiện năng lực y tế.
Y học thời nay rất thiếu thốn thiết bị, bác sĩ chủ yếu chẩn bệnh dựa vào kinh nghiệm cá nhân, thời gian đào tạo dài. Từ khi Franz tiếp quản, chính phủ Vienna tăng cường đào tạo nhân tài ngành y tế, học viên phải mất ít nhất một năm mới tốt nghiệp. Vì cải thiện điều kiện y tế trong nước, tổ chức đào tạo ngắn hạn cho các thầy lang bản địa, loại bỏ những phương pháp chữa trị lỗi thời bằng trầy máu, thay vào kiến thức y học hiện đại.
Thuộc địa vốn không được chú ý nhiều, vì bác sĩ chủ yếu là giai cấp trung lưu không muốn đi, chính phủ cũng khó bắt buộc. Hiện mỗi cứ điểm thực dân có ít nhất một bệnh viện với vài bác sĩ và học viên phụ giúp, trang bị y tế còn thiếu nhiều và phải mấy năm mới khắc phục. Từ năm tới, Áo mỗi năm sẽ đào tạo 12.000 bác sĩ trẻ, cộng với số bác sĩ hiện hành, hàng năm sẽ bổ sung thêm 20.000 thầy thuốc, giảm tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng.
Công tác đào tạo hộ lý cũng tiến triển nhanh, hai ba năm một khóa đào tạo với vài chục ngàn người. Họ không thể chẩn bệnh nhưng có thể căn cứ triệu chứng để bán thuốc cơ bản. Sai sót có thể gây hậu quả xấu nhưng đó là rủi ro nghề nghiệp. Thời đại này y tế còn tàn khốc như vậy.
Thủ tướng Felix đáp: "Vâng bệ hạ!" rồi ngập ngừng thêm: "Nếu muốn nâng cao ý thức vệ sinh của di dân, có lẽ nên bắt đầu từ trong nước. Trước kia ta chỉ tuyên truyền vận động người dân tự giác giữ vệ sinh, chưa có cưỡng chế. Bây giờ lập ra luật pháp bắt buộc thi hành sẽ hiệu quả hơn. Họ quen dần sẽ nhập thuộc địa cũng tự giác tuân thủ."
Tính cách người thuộc địa kiên cường, khó bắt buộc thi hành từ bên ngoài, nhưng thiết lập luật pháp từ trong nước sẽ dễ dàng hơn. Báo chí đã truyền thông về tầm quan trọng của vệ sinh lâu nay, phần lớn dân chúng cũng công nhận, tuy nhiên tiếp nhận và tuân thủ là hai vấn đề khác nhau. Việc cưỡng chế thi hành luật pháp chính là bước tiến mới.
Franz đồng tình: "Trong nước cần tăng cường công tác giáo dục an toàn vệ sinh phổ cập, đây là chuyện lợi nước lợi dân. Khi mọi người đều tuân thủ tiêu chuẩn vệ sinh, việc ngăn chặn bệnh tật truyền nhiễm sẽ tích cực hơn nhiều."
Đề xuất Tiên Hiệp: Ta Là Trù Thần, Toàn Tông Môn Đều Bị Ta Làm Thèm Khóc