Chương 1110: Cởi bỏ khúc mắc.
Chương 1110: Cởi bỏ khúc mắc.
Đào gia từ hai năm trước đã bắt đầu rút lui mọi mặt khỏi thị trường Trung Nguyên, Đào Thắng đích thân đi Linh Châu mua mười vạn khoảnh đất, dùng điều kiện hậu đãi để chiêu mộ mấy ngàn Hán nông từ Quan Trung tới khai khẩn canh tác, dưới sự điều động của ông, một nhóm đại tộc Ích Châu và Quan Lũng cũng nhộn nhịp mua đất trồng trọt ở Linh Châu, cùng với việc thu được lợi nhuận, cũng giúp quan phủ mau chóng khôi phục sự phồn thịnh ngày xưa dưới sự cai trị của Hán Vương.
Nhưng Đào gia trồng trọt ở Linh Châu không phải vì lợi nhuận, lương thực thu hoạch được cũng chuẩn bị giao cho quan phủ không hoàn lại, Đào gia chủ yếu muốn mưu cầu vốn liếng chính trị, chỉ một năm đầu tiên Đào gia đã thua lỗ ở Linh Châu một trăm triệu tiền.
Thiệt hại lớn ở Linh Châu nhất định phải được bù lại ở phương diện khác, theo đề nghị của Lưu Cảnh, Đào gia bắt đầu buôn bán với Tây Vực, lấy lợi nhuận khổng lồ từ buôn bán Tây Vực để bù đắp tổn thất của Linh Châu.
Coi như là sự bồi thường cho việc đóng góp đất đai ở kinh thành của Đào gia, Lưu Cảnh đã tặng mấy nghìn con lạc đà bắt được từ tay Hung Nô cho Đào gia, thành lập thương đội Tây Vực đầu tiên của Đào gia.
Đã hơn một năm trôi qua, Đào gia đã quay trở lại Tây Vực nhiều lần, còn xây dựng kho hàng trung chuyển ở quận Đôn Hoàng, họ vận chuyển số lượng lớn hàng hóa phương tây về Trung Nguyên, đem đồ gốm sứ, tơ lụa của Trung Nguyên chuyển đến phương tây, từ đó kiếm được lợi nhuận kếch xù.
- Nghe nói Nhị thúc mới từ Đại Uyên trở về, lần này đi xa vậy!
Đào Lợi cười đáp:
- Lần này đi Đại Uyên chủ yếu là dò đường và tìm kênh nhập hàng, cũng là lần đi xa nhất đến phía tây trong đời ta.
- Nước Đại Uyên còn có ở đây không?
- Nước Đại Uyên vẫn còn, trước đây do phủ Đô Hộ Tây Vực của Đại Hán, có điều năm Vĩnh Sơ Nguyên đã phế phủ Đô Hộ Tây Vực, nước Đại Uyên lại bị người Nguyệt thị đánh bại, thần phục nước Quý Sương, trên đường có thể nhìn thấy đốt lửa báo động và thành lũy mà Đại Hán thiết lập, đáng tiếc đều đã bị bỏ đi rồi.
Lưu Cảnh yên lặng gật đầu:
- Một ngày nào đó, ta còn sẽ khôi phục lại phủ Đô Hộ Tây Vực, chấn hưng hùng phong Đại Hán.
- Hy vọng những năm tháng còn lại của đời ta có thể nhìn thấy ngày đó.
Đào Lợi nói đến đây lại cười nói:
- Lần này ta đi Đại Uyên, vốn định mua ngựa giống của Đại Uyên, nhưng họ căn bản không bán ngựa giống, kiểm tra rất nghiêm ngặt, về sau ta thông qua mấy thương nhân Túc Đặc đã mua được ba trăm con ngựa giống Hãn Huyết, ta định dùng chúng để làm giống, sinh sản bầy ngựa ở Lũng Tây.
Lưu Cảnh mừng rỡ:
- Ngựa giống giờ đang ở đâu?
- Ở trường ngựa quận Lũng Tây, tổng cộng hai trăm linh năm con.
Lưu Cảnh nhướn mày:
- Nhị thúc ban nãy chẳng phải nói mua được ba trăm con sao?
Đào Lợi không hé răng, lâu sau mới thở dài đáp:
- Còn một trăm con bị Mã Đô đốc giữ lại ở Hà Tây rồi.
- Mã Siêu?
Đào Lợi gật đầu, lại khẽ nói:
- Điện hạ, có câu này ta không biết nên nói hay không, có liên quan đến Mã Siêu, nếu điện hạ không muốn nghe, ta sẽ không nói nữa.
Trong lòng Lưu Cảnh có cảm giác bất ổn, trầm giọng nói:
- Nhị thúc cứ nói thẳng!
- Ta đề nghị điện hạ mau chóng điều Mã Siêu đi! Giữ gã ở lại Hà Tây sớm muộn gì cũng xảy ra chuyện.
- Nhị thúc nói cụ thể xem nào, thật ra ta cũng có nghe nói.
- Có lẽ điện hạ không biết, người Khương ở Hà Tây năm ngoái đã mua lượng lớn binh khí khôi giáp của nước Quý Sương, hơn nữa ở hành lang Hà Tây còn xuất hiện mấy nhóm mã phỉ, đều là người Khương và người Đê, chuyên cướp bóc của cải của thương nhân qua lại, thương nhân nếu muốn bình yên đi qua Hà Tây, trước tiên phải nộp một khoảng tiền phí bảo vệ không nhỏ ở Túc Châu, khiến cho lợi nhuận của thương nhân giảm mạnh, tiếng oán than dậy đất.
Đào Lợi mặc dù không nói rõ, nhưng chính là ám chỉ Mã Siêu dung túng người Khương và người Đê, trước đây Triệu Vân cũng đã nói chuyện này, giờ Đào Lợi lại nhắc đến lần nữa, tất nhiên vấn đề ngày càng nghiêm trọng.
Thật ra khi Lưu Cảnh ở Hợp Phì, cũng nhận được điệp văn từ Trường An gửi tới, trong đó có quan phủ Hà Tây lên án Mã Siêu che chở người Khương, khiến mâu thuẫn giữa người Khương và người Hán ở Hà Tây vô cùng gay gắt, rất nhiều đất đai người Hán bị chiếm đoạt, gia viên bị đốt, bị buộc phải trốn đi Lũng Tây.
Chỉ có điều quân Hán ở Hợp Phì đang dồn hết sức lực của đất nước vào đại chiến với quân Tào, nên không có sức để chú ý đến chuyện này, do đó cũng chỉ có thể vuốt ve Mã Siêu là chính, cố gắng không đụng đến lợi ích của gã.
Nếu nói Mã Siêu vì kiếm tiền mà thu phí bảo vệ với thương nhân qua lại, Lưu Cảnh có lẽ còn có thể dễ dàng tha thứ, nhưng Đào Lợi nhắc đến chuyện người Khương bí mật mua khí giáp của nước Quý Sương, điều này khiến Lưu Cảnh phải cảnh giác.
Một khi Mã Siêu tự lập ở Hà Tây, vấn đề sẽ trở nên nghiêm trọng, Lưu Cảnh thầm nghĩ:
- Nguy cơ ở Hà Tây xem ra không thể kéo dài vô thời hạn nữa, nhất định phải giải quyết nhanh chóng.
…
Tôn Thượng Hương xem được mấy thanh kiếm rồi thôi, không xem tiếp nữa, lý do rất đơn giản, những đao kiếm cực phẩm này đều là đồ quý giá của cửa hàng, không bán ra ngoài, nàng có xem nhiều nữa cũng không ý nghĩa gì, trái lại khiến nàng thấy mất mát trong lòng.
Tôn Thượng Hương liền đẩy đao kiếm ra, đứng dậy cáo từ, chủ tiệm Sử Lâm mặc dù không muốn nhượng đao kiếm quý, nhưng ông ta cũng không muốn đắc tội với thứ phi của Hán Vương, nhỡ may chọc giận Hán Vương điện hạ, ông ta còn muốn làm ăn ở Trường An hay không.
Sử Lâm liền lấy một thanh đoản kiếm quý giá lâu năm, cũng rèn bằng thép Ô Tư tặng cho Tôn Thượng Hương, theo lời Sử Lâm nói, kiếm này ông ta không bán, chỉ tặng cho người thật sự hiểu kiếm, điều này khiến Tôn Thượng Hương vô cùng vui mừng, nhận lấy kiếm rồi cáo từ.
Lúc này xe ngựa vẫn ở hãng buôn chưa về, may mà hãng buôn không xa, từ xa đã có thể nhìn thấy kiến trúc cao lớn đó, Tôn Thượng Hương bèn đi bộ đến, nhân tiện có thể đi dạo chợ một lát.
Cho dù Tôn Thượng Hương đã ý thức được mình không được can thiệp vào đại sự quân quốc của phu quân, kể cả chuyện của Giang Đông nàng cũng tốt nhất không hỏi đến, nếu không không những chẳng giải quyết được vấn đề Giang Đông, mà trái lại sẽ ảnh hưởng đến tình cảm vợ chồng, chỉ có đợi khi phu quân hỏi mình, nàng mới có thể nói ra chuyện này, càng không thể vì thế mà tỏ sắc mặt, hờ hững với phu quân.
Tuy là nói như vậy, nhưng cứ nghĩ đến Giang Đông sắp bị diệt tới nơi, cơ nghiệp mà ba người phụ thân và hai huynh sáng lập sắp tiêu tan, trong lòng nàng vẫn có một sự khó chịu không nói ra được, là con gái của Tôn gia, nàng lại không thể thờ ơ khi đối diện với tình thế nguy cấp của Giang Đông, trơ mắt nhìn Giang Đông diệt vong, nhưng nàng lại không biết cầu xin phu quân thế nào, nỗi đau khổ ẩn sâu này cứ đè nén trái tim nàng, khiến nàng khúc mắc khó giải.
Tôn Thượng Hương đi trên đường tâm sự nặng nề, người đi đường cũng phần lớn không biết nàng, mấy tên du côn trong chợ thấy nàng xinh đẹp, định tiến đến trêu ghẹo, nhưng lại thấy phía sau nàng là bốn tùy tùng đeo đao cao lớn vạm vỡ, sợ đến mức không dám đụng tới nàng, đành nhìn trộm từ xa.
Đi được ba mươi mấy bước, Tôn Thượng Hương bỗng nghe thấy có người cao giọng rao hàng:
- Đồ sơn Đông Ngô thượng đẳng đây, bỏ qua là không có nữa.
Giọng nói này rõ ràng mang khẩu âm Giang Đông rất nặng, Tôn Thượng Hương chợt nghe được giọng nói quê hương, trong lòng bỗng vui sướng, quay đầu lại nhìn, chỉ thấy góc đường có một cửa hàng nhỏ, trước cửa hàng treo kỳ phiên viết hai chữ ‘đồ sơn’, ở cửa có đặt một cây đèn trúc chín đoạn, được sơn đen nhánh, chính là đồ sơn Đông Ngô trứ danh.
Nhìn thấy vật phẩm của quê hương, càng khiến nàng cảm thấy thích thú hơn cửa hàng đao kiếm, nàng vội đi tới, chỉ thấy cửa hàng rất nhỏ, rộng chưa tới sáu thước, dài khoảng hai trượng, chính là được ngăn cách ra từ cửa hàng tạp hóa sát bên, chủ tiệm là một đội vợ chồng trẻ, bộ dạng đều rất thanh tú, rất có khí chất của người Giang Nam.
Có thể thấy họ kinh doanh không tốt lắm, không có người ghé vào, hai vợ chồng ăn mặc đơn giản, mở tiệm này cũng chỉ có thể gắng gượng sống tạm, chàng trai thấy Tôn Thượng Hương chú ý đến cửa hàng mình, vội vã cười nói:
- A tỷ hãy vào xem, đồ sơn mà cửa hàng bán đều là đồ sơn Đông Ngô chính thống, là cửa hàng duy nhất ở Trường An.
Tôn Thượng Hương bước vào cửa hàng nhỏ, người phụ nữ ra đón, thi lễ rồi cười nói:
- A Tỷ tùy ý chọn lựa!
Tôn Thượng Hương nhìn người này một cái, cười hỏi:
- Các ngươi là người Ngô Quận sao?
Nàng nói bằng tiếng quê hương, hai vợ chồng nhìn nhau, lập tức cười nói:
- Hóa ra a tỷ cũng là đồng hương, chúng ta là người huyện Ô Trình.
Tôn Thượng Hương gật đầu, khó trách bọn họ không nhận ra mình, hóa ra họ là người huyện Ô Trình, nhưng huyện Ô Trình cũng thuộc Ngô Quận, lúc nhỏ nàng cũng sống một thời gian ở đây, huyện Ô Trình đã để lại ấn tượng rất tốt với nàng.
- Ta nguyên quán ở huyện Phú Xuân, tuy nhiên ta lớn lên ở Ngô Huyện, huyện Ô Trình cũng từng đi qua, củ ấu ở đó ngọt hơn ở Ngô Huyện, vì thế quê ta có câu củ ấu Ô Trình, ngó sen Ngô Huyện.
Người phụ nữ cười đáp:
- A tỷ nói đúng, có điều người Ô Trình đều nói ngó sen của Ngô huyện không đủ giòn, người Ngô Huyện lại nói củ ấu của Ô Trình không ngọt.
Nghe câu chế nhạo bằng tiếng địa phương, tiếng cười của Tôn Thượng Hương như chuông bạc vang vọng trong cửa hàng, tâm trạng nàng lập tức vui vẻ, lại nói tiếp:
- Ta ở Trường An đã nhiều năm, vẫn là lần đầu tiên gặp được đồng hương, các ngươi tới Trường An khi nào?
- Chúng tôi đến đây đầu năm ngoái để mưu sinh, tuy nhiên người Giang Đông ở Trường An rất nhiều, a tỷ thật sự chưa từng gặp sao?
- Ta rất ít đi ra ngoài, người Giang Đông ở Trường An nhiều không?
Chàng trai trẻ tuổi tiếp lời ở cửa cười nói:
- Ít nhất có mấy vạn người, không nhất định ở Trường An, phân bố ở các nơi của Quan Trung, riêng huyện Ô Trình của chúng ta đã có hàng ngàn người.
Tôn Thượng Hương gật đầu, lại kỳ quái hỏi:
- Sao tất cả đều chạy đi hết, quê hương không tốt sao?
Người phụ nữ khẽ thở dài:
- Ly hương nhục như chó, nếu không phải thực sự không sống nổi, ai muốn rời quê nhà chứ?
- Tại sao?
Tôn Thượng Hương hỏi:
- Sao lại không sống nổi?
Chàng trai đứng ở cửa nói:
- Xem ra đại tỷ rất ít liên lạc với quê nhà, thuế phú của Giang Đông quá nặng nề, quan phủ bóc lột tàn nhẫn, nhà của ta mấy đời kinh doanh đồ sơn, mỗi tháng trên một nửa thu nhập phải nộp vào thương thuế, còn cả thuế đầu người, thuế thuyền, thuế tây chinh, thanh niên trai tráng hoặc là đi tòng quân, không nhập ngũ thì phải phục lao dịch, ba tháng phục một tháng lao dịch, ai chịu nổi, gia cảnh của ta vốn không tệ, cuối cùng cũng bị sụp đổ, quan phủ ngày ngày tới cửa bức thuế, đành phải dẫn theo thê tử chạy trốn, đi theo thúc phụ tới Trường An mưu sinh.
- Những việc này chẳng nhẽ Ngô hầu không quản sao?
Tôn Thượng Hương tức tối nói.
Chàng trai cười nhạt một tiếng:
- A tỷ đang nói đùa sao! Nếu Ngô hầu thật sự mặc kệ, chúng tôi cũng sẽ không chạy khỏi quê nhà, chính vì y quản quá nhiều, quản quá ác độc, đòi tiền đòi lương thực, khắp nơi đều bắt phu nhập ngũ, huynh đệ ta ba người thì đại ca và nhị ca đều chết trận, bỏ lại mẹ góa con côi, cuối cùng đại tẩu nghèo đổ bệnh mà chết, nhị tẩu mang theo con đi cũng không biết tung tích, a tỷ không ở Giang Đông đương nhiên không biết, người Giang Đông đều gọi y là Tôn sài lang, hận không thể ăn thịt, lột da của y, nếu quân Hán tấn công Giang Đông, ta sẽ là người đầu tiên ghi tên tòng quân, giết về quê nhà.
Tôn Thương Hương cũng không biết mình rời khỏi cửa hàng thế nào, trong lòng nàng trống rỗng, tràn đầy mất mát, nàng nằm mơ cũng không ngờ được rằng, Giang Đông lại trở thành địa ngục, giang sơn Tôn thị mà phụ thân và huynh trưởng gây dựng, cuối cùng bị dân chúng căm hận, muốn vứt bỏ.
Nàng lại nhớ đến câu nói của chàng trai trẻ tuổi ‘Người Giang Đông đều gọi y là Tôn sài lang, hận không thể ăn thịt, lột da của y, nếu quân Hán tấn công Giang Đông, ta sẽ là người đầu tiên ghi tên tòng quân, giết về quê hương!
Nghĩ đến câu nói này, các dư vị cùng dồn lên trái tim nàng, Tôn Thượng Hương không khỏi khẽ thở dài một tiếng, huynh trưởng nếu thật sự bất nhân như thế, Giang Đông như vậy còn bảo vệ nó làm gì?
Đề xuất Tiên Hiệp: (Dịch) Thế Giới Hoàn Mỹ