Chương 900: Thám báo gặp phong ba

Chương 900: Thám báo gặp phong ba

Những năm đầu Đông Hán, Hung Nô bị phân liệt thành hai bộ Nam và Bắc. Từ khi Bắc Hung Nô bị quân Hán và Nam Hung Nô đánh bại, bị buộc phải di cư về phía tây. Tiên Ti Đông Hồ nhân cơ hội quật khởi ở thảo nguyên Mạc Bắc, thế lực của Nam Hung Nô không ngừng bị chèn ép, chỉ có thể phát triển về hướng nam.

Cuối thời Đông Hán, Nam Hung Nô lại phát sinh nội chiến, Thiền Vu Khương Cừ bị kẻ phản loạn giết chết. Con trai y là Vu La Phu lưu vong đến Trung Nguyên, phát triển ở vùng Tịnh Châu và Trung Nguyên. Cũng chính là từ lúc này, người Hung Nô bắt đầu tham dự sâu vào loạn Hán Mạt.

Vu La Phu lưu vong Trung Nguyên được bảy năm thì qua đời, đệ đệ là Hô Trù Tuyền kế nhiệm vị trí Thiền Vu, tịnh phong cho trưởng tử Lưu Báo của Vu La Phu làm Tả Hiền Vương, phong cho thứ tử Khứ Ti của Vu La Phu làm Hữu Hiền Vương.

Không lâu sau, dưới sự giúp đỡ của Viên Thiệu, Hô Trù Tuyền dẫn quân Hung Nô lưu vong giết trở về Nam Hung Nô, phục quốc thành công, khống chế được một lãnh thổ rộng lớn bao gồm phía nam Âm Sơn, bắc bộ Tịnh Châu và vùng Hà Sóc.

Tuy rằng trung tâm quyền lực của Nam Hung Nô bắc thượng thuận theo việc Hô Trù Tuyền phục quốc, nhưng Nam Hung Nô vẫn duy trì thế lực mạnh mẽ ở Trung Nguyên như trước. Trong đó Tả Hiền Vương Lưu Báo khống chế vùng bắc bộ Tịnh Châu, mà Hữu Hiền Vương Khứ Ti thì khống chế vùng Quan Nội.

Sau khi thế lực phương nam của Lưu Cảnh vừa đoạt được Quan Lũng, không thể tránh được mà chạm mặt với thế lực của Nam Hung Nô.

Mặc dù đã trôi qua một năm, nhưng quân Hán lần lượt đánh bại thế lực Khương Đê ở Lũng Tây và Hà Tây, ổn định phía tây Quan Trung. Nhưng cùng với chế định của một quốc sách trọng đại của Hán Quốc dời đô về Trường An, quân Hán rốt cuộc cũng không thể không bắt đầu đối mặt với thế lực Nam Hung Nô thâm nhập Trung Nguyên đã lâu, mà đứng mũi chịu sào chính là thế lực của Hữu Hiền Vương Khứ Ti ở vùng Quan Nội.

Vùng Quan Nội cũng tức là khu vực Thiểm Bắc và Ninh Hạ ngày nay, Hán Vương thiết lập tại đây bốn quận là Thượng Quận, quận Bắc Địa, quận Sóc Phương và quận An Định. Nhưng từ cuối thời Đông Hán đến nay, các dân tộc xung quanh đều ùa vào Quan Nội, trong đó người Hung Nô là nhiều nhất, sử gọi là "Nhân khẩu Quan Nội hơn trăm vạn, có một nửa là Nhung Địch, Hung Hán tạp cư."

Trên thực tế, vùng Quan Nội chỉ do người Hung Nô làm chủ đạo, ngoài ra còn có Ô Hoàn, Khương, Đê, Hạt, Tiên Ti, tạp Hồ cùng sinh sống. Kỵ binh mang giáp có hơn hai mươi vạn, uy hiếp Quan Trung và Hà Đông như hổ rình mồi. Hán Quốc dời đô Trường An, khoảng cách đến thế lực Hung Nô nhất cũng không quá hai trăm dặm đường, trong vòng một ngày là thiết kỵ Hung Nô có thể giết đến Trường An.

Mặc dù Lưu Cảnh biết rõ thế lực Hung Nô hùng mạnh, nhưng tình thế lại mạnh hơn người, giải trừ uy hiếp của tạp Hồ ở Quan Nội đối với Quan Trung đã trở thành điều kiện tiên quyết, cũng là khiêu chiến rất lớn mà Lưu Cảnh không thể không đối mặt.

Nhưng tình hình của vùng Quan Nội phức tạp, người Hung Nô tới lui bất định. Trong các tộc tạp Hồ hỗn cư, có người Hồ được Hán hóa cùng làm nông canh để sinh sống với người Hán, cũng có Hồ tộc dùng mãnh sống bằng du mục. Cho nên, định ra một kế sách đánh Hồ toàn diện, liền trở thành nhiệm vụ thiết yếu trước khi quân Hán ồ ạt tiến công.

Quận An Định tọa lạc giữa Lũng Tây và Quan Nội, trong đó có Lục Bàn Sơn kéo dài ngàn dặm nằm vắt ngang, trở thành thành lá chắn thiên nhiên ở phía bắc Quan Trung, khiến cho quận An Định bị phân làm hai.

Lưu vực Kinh Thủy phía nam Lục Bàn Sơn là vùng tập trung nông canh, nhân khẩu đông đúc, đất đai phì nhiêu, từ xưa đã là nơi giàu có và đông đúc của Quan Trung. Nơi này có mấy vạn nhân khẩu, trong đó người Hán chiếm một nửa, ngoài ra còn có Khương, Ô Hoàn và một bộ phận người Hung Nô. Bọn họ là người Hồ được Hán hóa, lấy nông canh làm nghiệp, phối hôn với nhau, ranh giới với người Hán đã mơ hồ.

Buổi sáng hôm nay, một đội kỵ binh thám báo quân Hán khoảng hai mươi người phi ngựa dọc theo Lục Bàn Sơn và hà cốc hăng hái lao nhanh về phía tây bắc. Đội kỵ binh thám báo này trực thuộc Tế Liễu Doanh. Bọn họ phụng lệnh của Chủ tướng Tế Liễu Doanh Bàng Đức bắc thượng quận An Định thăm dò tình báo, chủ yếu là thăm dò tình hình vùng Tiêu Quan.

Đội kỵ binh thám báo này do một gã Quân hầu chỉ huy, có tên là Vi Tấn, người Kinh Triệu, một chi của đại tộc Vi thị ở Kinh Triệu, tuổi tầm hai mươi sáu hai mươi bảy, thân hình cao lớn khôi ngô, gương mặt rộng, mũi to, làn da ngăm đen, vốn mang văn chức Tòng quân ở Tào doanh, sau khi đầu hàng quân Hán thỉ đảm nhiệm chức Quân hầu thám báo, tuy chỉ có một năm, nhưng vô cùng thông minh khéo léo.

Kỵ binh phi nhanh như chớp xông lên một ngọn đồi thấp. Rừng tùng trên sườn đồi rậm rạp, cao vút bốn phía, là vị trí tốt nhất để thăm dò tình hình xung quanh. Vi Tấn thấy trời đã sắp đến giữa trưa, liền nói với đám kỵ binh:

- Xuống ngựa nghỉ ngơi tại chỗ, nửa canh giờ sau xuất phát!

Đám kỵ binh đều xuống ngựa, lấy túi nước trên lưng ngựa xuống, cho chiến mã uống nước và ăn cỏ khô. Lo xong chiến mã, bọn họ cũng tự mình tìm nơi ngồi xuống, uống nước ăn lương khô. Vi Tấn tìm được một tảng đá lớn bằng phẳng, lấy một tấm bản đồ thám báo ra.

Trước mắt bọn họ đang ở trong sơn mạch của Lục Bàn Sơn, buổi sáng đã đi xuyên qua Đàn Tranh Hiệp (hiệp là eo sông), tiến vào trong một thung lũng của Lục Bàn Sơn, bốn phía núi cao sừng sững, địa thế trong thung lũng thấp phẳng, khắp nơi là ruộng lúa mạch mênh mông bát ngát. Vi Tấn vẽ ra một hình tam giác nhỏ trên địa đồ, đấy chính là ngọn đồi bọn họ đang đứng.

- Trương Vũ, tới đây một chút!

Vi Tấn quay đầu hô một tiếng. Lập tức, một gã Thập trưởng tất tả chạy đến:

- Quân hầu tìm thuộc hạ sao?

Vi Tấn dùng thanh gỗ chỉ vào ngọn núi kéo dài liên miên, hỏi:

- Nơi chúng ta đang đứng có tên là gì, Tiêu Quan ở đâu?

Binh sỹ Trương Vũ chính là người bản địa, rất quen thuộc với tình hình xung quanh. Gã gác bàn tay lên trán nhìn ra đằng xa một hồi, ngoài mười mấy dặm chính là Lục Bàn Sơn kéo dài mà hiểm trở, bốn phía núi cao ngất trời, bọn họ vừa lúc bị vây trong một thung lũng nho nhỏ trong quần sơn kia.

Trương Vũ suy nghĩ rồi nói:

- Nơi này có tên là Trú Hương Cốc, là một thung lũng có tiếng của Lục Bàn Sơn, chịu sự quản hạt của huyện Ô Thị. Nếu thuộc hạ nhớ không lầm, phía trước hẳn là một có tiểu trấn, tên là trấn Na Thành, là nơi tiếp tế cuối cùng trước khi thương nhân xuất quan. Lúc nhỏ thuộc hạ đã từng đi qua đây một lần, cửa hàng rất nhiều. Rời khỏi trấn Na Thành đi về phía bắc thêm bảy tám dặm nữa sẽ tiến vào chỗ núi cao cốc sâu. Mộc Hiệp Quan trong Tiêu Quan ở tận cùng phía bắc. Kỳ thực Tiêu Quan cũng không phải là một quan ải, mà là do ba tòa quan ải tạo thành. Từ phía bắc là Mộc Hiệp Quan, đến phía nam là Lục Bàn Quan, ở giữa là Ngõa Đình Quan. Đoạn đường tổng cộng dài khoảng hai mươi mấy dặm, địa thế hiểm yếu, có xây Trường Thành. Ở ngoài ba tòa quan khẩu lần lượt xây dựng ba tòa quân thành, nhưng mà có lẽ đều đã bị bỏ không.

Vi Tấn vừa nghe, vừa dùng bút chì than ghi chép trên địa đồ. Y thu hồi bản đồ, đi đến bìa rừng tùng phía bắc nhìn ra xa, thấy loáng thoáng được một tiểu trấn. Lúc này, một thương đội gồm hơn trăm con lừa ngựa, chứa đầy hàng hóa đang từ bên cạnh ngọn đồi đi qua, đi về phía tiểu trấn. Nơi đó có lẽ là trấn Na Thành.

Vi Tấn trở về nói với đám binh sỹ:

- Nghỉ ngơi thêm một chút thì xuất phát, đêm nay nhất định phải qua được Mộc Hiệp Quan.

Sau nửa canh giờ, Vi Tấn ra lệnh một tiếng, các binh sỹ đếu nhất loạt lên ngựa, thúc ngựa lao xuống đồi, dọc theo quan đạo gấp gáp chạy về phía trấn Na Thành, cả đoạn đường bụi đất cuồn cuộn. Lúc cách tiểu trấn chỉ còn một dặm, phía trước bỗng có mấy người thương nhân cưỡi ngựa chạy đến, vẻ mặt sợ hãi gấp gáp, liều mạng phất tay về hướng bọn họ. Vi Tấn nhận ra, chính là thương đội mà y nhìn thấy trên sườn đồi cách đấy không lâu.

- Đã xảy ra chuyện gì?

Vi Tấn tiến lên nghênh đón, hỏi.

Mấy người thương nhân nhìn thấy quân Hán, trong lòng hơi ổn định, vây quanh Vi Tấn mồm năm miệng mười:

- Kỵ binh người Hồ đang cướp sạch tiểu trấn, đến đâu thì giết người cướp của đến đó, toàn bộ hàng hóa của chúng tôi đều bị cướp đi rồi.

Vi Tấn cả kinh, quân đội người Hồ rất ít tiến vào Tiêu Quan, sao hôm nay lại xuất hiện? Y liền hỏi:

- Có bao nhiêu kỵ binh người Hồ?

- Có hơn hai ngàn người, các ngài đi nhanh đi! Chắc chắn là bọn họ còn muốn nam hạ.

Vi Tấn lập tức ý thức được mức độ nghiêm trọng của vấn đề, đã có mấy ngàn Hồ kỵ đi xuyên qua Lục Bàn Sơn tiến vào địa giới Quan Trung. Đây là hành vi khiêu khích quân sự cực kỳ nghiêm trọng, là tình báo vô cùng trọng yếu, thậm chí có liên hệ đến toàn bộ chiến cục.

Y nhất định phải báo cáo cho Chủ tướng, Vi Tấn lập tức nói với Trương Vũ:

- Ngươi dẫn theo mười huynh đệ lập tức trở về quân doanh bẩm báo việc này với Bàng tướng quân.

- Tuân mệnh!

Trương Vũ vung tay lên:

- Đi theo ta!

Y chỉ huy mười tên thủ hạ quay đầu đi về phía nam, mấy người thương nhân cũng đi cùng bọn họ, dần dần đã đi xa. Vi Tấn thấy đám người Trương Vũ đã biến mất, mới nói với mười tên thủ hạ còn lại:

- Bỏ qua trấn Na Thành, chúng ta đi Tiêu Quan xem thử.

Bọn họ đi theo một con đường nhỏ khác, ý đồ vòng qua khỏi trấn Na Thành, không ngờ bọn họ vừa đi ra khỏi đó một dặm đường, trên đỉnh đầu liền có một mũi tên bắn qua, phát ra tiếng rít the thé (đây là một loại mũi tên có thể phát ra tiếng kêu khi bắn). Vi Tấn giật mình kinh hãi, ghìm chặt chiến mã, chỉ thấy từ bốn phương tám hướng có mấy trăm Hồ kỵ xông đến, bao vây, vô số mũi tên đã nhắm vào bọn họ.

- Đừng chống cự!

Vi Tấn thấp giọng ra lệnh. Bất kể như thế nào bọn họ cũng không đánh lại mấy trăm kỵ binh, sẽ không không mà chịu chết. Y thấy những tên Hồ kỵ này thân mặc bì giáp màu đỏ, liền đoán được bọn họ hẳn là người Ô Hoàn.

Lúc này, một gã đầu lĩnh Hồ kỵ thúc ngựa đi ra. Bộ dạng của gã cực kỳ hùng tráng, nước da ngăm đen, một đôi mắt báo linh hoạt, sắc bén nhìn chằm chằm vào Vi Tấn, một lúc lâu sau mới lạnh lùng nói:

- Các ngươi là người nào, tới đây làm gì?

Thứ tiếng gã nói là Hán ngữ, không lưu loát, miễn cưỡng có thể nghe hiểu. Vi Tấn ngạo nghễ nói:

- Đây là lãnh thổ của Hán Quốc, chúng ta đang tuần tra, không phải là hoàn toàn chính đáng sao? Các ngươi là ai, dám giết người phóng hỏa trong lãnh thổ Hán Quốc!

Gã đầu lĩnh Hồ kỵ híp mắt theo dõi y, trong mắt hoài nghi bất định. Bỗng nhiên gã cười phá lên, mấy trăm Hồ kỵ ở bốn phái cũng cười theo, gã đầu lĩnh Hồ kỵ vừa dứt tiếng cười, liền lãnh đạm nói:

- Thấy các ngươi không chống cự, ta tha các ngươi một mạng. Người đâu! Dẫn bọn chúng về doanh địa.

Mấy trăm Hồ kỵ xông lên, tước đoạt binh khí của bọn họ, trói hai tay họ ra sau lưng, dắt ngựa của bọn họ đi về phía Tiêu Quan.

Đám Hồ kỵ này là một đại bộ lạc của tộc Ô Hoàn. Người Ô Hoàn chia ra làm hai bộ, bộ phận chủ yếu thì chuyển đến Liêu Đông và U Châu, một bộ phận khác thì chuyển đến Thượng Quận và quận An Định của Quan Nội, cùng sống chung một chỗ với người Hung Nô, thủ lĩnh Lỗ Tích tự xưng là Ô Hoàn Vương.

Mà bộ lạc Ô Hoàn ở quận An Định có khoảng hơn ba vạn người, có bảy ngàn kỵ binh tinh nhuệ, Tù trưởng tên là Biên Thứ, mà thủ lĩnh kỵ binh Ô Hoàn đã bắt thám báo quân Hán làm tù binh chính là con trai Xích Ninh. Gã dẫn hai ngàn kỵ binh thâm nhập Kinh Thủy, chuẩn bị đoạt lấy nhân khẩu tài vật, không ngờ lại vừa lúc gặp phải thám báo quân Hán.

Xích Ninh có chút lo lắng Tướng Hán đến, không nam hạ nữa, mà áp giải đám người Vi Tấn trở về đại doanh, bẩm báo với phụ thân.

Bọn họ đi một mạch về phía bắc, xuyên qua khe núi gập ghềnh trong lòng Lục Bàn Sơn, ra khỏi Mộc Hiệp Quan, dưới chân núi Lục Bàn Sơn chính là huyện Cao Bình. Lúc này, huyện thành đã trở thành cứ điểm của người Ô Hoàn ở quận An Định. Hơn phân nửa nhân khẩu trong huyện thành đã bỏ chạy, nhà ở trong thành đều bị người Ô Hoàn chiếm cứ, dùng để an trí cho phụ nữ trẻ con và người già yếu.

Ở ngoài thành có mấy ngàn đại trướng, một nhánh sông như đai ngọc vắt ngang tòa thành, đây chính là doanh địa của Ô Hoàn An Định. Phía bắc mấy trăm dặm đều là địa bàn của họ, dùng chăn nuôi mà sống, một nhóm người gieo trồng lúa mỳ trên đất đai phì nhiêu ở bốn phía.

Biên Thứ năm nay tuổi đã ngoài năm mươi, thân hình cao to cường tráng, có hơn mười người thê thiếp, sinh cho lão một đàn con trai, nhưng chỉ có hai đứa con trai sống đến tuổi trưởng thành. Trưởng tử Ô Huyền, đang làm thị vệ bên cạnh Hữu Hiền Vương Hung Nô, thứ tử Xích Ninh thì đi theo bên cạnh lão.

Một năm trở lại đây, trong lòng Biên Thứ có chút bất an. Quân Hán xuất binh mạnh mẽ với quy mô lớn ở Lũng Tây và Hà Tây, tiêu diệt các bộ người Khương Đê. Tuy rằng vẫn chưa bắc thượng, nhưng một điềm báo chẳng lành đã bao trùm lấy các bộ ở Quan Nội. Chiếu theo cách nghĩ của Biên Thứ, nên đi Trường An biểu lộ sự thần phục đối với Lưu Cảnh, theo truyền thống mà tiến công dê bò. Mấy trăm năm qua, người Ô Hoàn đều tiến cống với vương triều nhà Hán, cầu đạt được sự che chở của vương triều.

Nhưng hai tháng trước, trưởng tử mang đến mộc tiễn lệnh của Hữu Hiền Vương Khứ Ti từ Xa Diên Trạch đến, các bộ tộc không được tự tiện đầu hàng Hán Quốc, kẻ trái lệnh diệt tộc. Việc này khiến Biên Thứ không dám phái người đến Trường An thần phục. Ngày ngày lão đều khẩn cầu trời xanh phù hộ, quân Hán xuất binh Thượng Quận trước, để tên Lỗ Tích kia đau đầu đi.

Lúc này, có thị vệ ngoài đại trướng bẩm báo, Thiếu tù trưởng Xích Ninh đã trở về, còn bắt được mấy tên thám báo quân Hán. Tin tức này khiến cho Biên Thứ chấn động.

Đề xuất Tiên Hiệp: Siêu Thần Cơ Giới Sư
Quay lại truyện Binh Lâm Thiên Hạ
BÌNH LUẬN